vanban.org

Bản án 119/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 25/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H), phạm tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: 1. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS ST Phạm Văn D cđp - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H), phạm tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HS-ST
Ngày: 25 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đàm Thị Thanh Thuỷ và ông Lê Phi Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan Hương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phạm Văn D, sinh ngày: 01/02/1986, tại Thanh L, Hà N; nơi cư trú: khu 6, phường H, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu 6, phường M, tỉnh Quảng Ninh); nơi ở: khu 4, phường H, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu 4, phường M, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H và bà: Nguyễn Thị T; có vợ là: Bùi Thị H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 20/3/2025, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

2/ Họ và tên: Wu De H (tên phiên âm Ngô Đức H), sinh ngày: 06/10/1991, tại tỉnh Q, Trung Quốc; nơi cư trú và chỗ ở: số 29, đội Đ, ủy ban thôn S, trấn S, huyện H, tỉnh Q, Trung Quốc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: trung học cơ sở; dân tộc: Hán; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông: Wu Quan Y (Ngô Toàn A) và bà: Lu Ye L (Lư nghiệp L); có vợ là: Wu Dong M (Ngô Đông M) và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/3/2025, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo Wu De H: Bà Phạm Thị Thuỳ N, sinh năm 1982; địa chỉ: số nhà 48, tổ 15, khu 4, phường B, Quảng Ninh, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: khu 6, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: khu 4, phường H, Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường 1, tỉnh Quảng Ninh), có mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 19/3/2025, Tổ công tác Đồn Biên phòng Trà Cổ tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực bờ biển Cồn Mang thuộc khu Tràng Vỹ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu Tràng Vỹ, phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh) kiểm tra hành chính, phát hiện Phạm Văn D đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda - Blade, biển kiểm soát (BKS) 14K1 - 11111 chở 02 người, trong đó người ngồi giữa là Huỳnh Nga (người Việt Nam) và người ngồi sau là H Jun (người Trung Quốc, tên phiên âm tiếng việt là H).

Quá trình làm việc, Phạm Văn D khai được một người phụ nữ tên H (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại qua ứng dụng zalo thuê chở 02 người trên ra khu vực bờ biển Cồn Mang sẽ có 01 người đàn ông Trung Quốc điều khiển xuồng máy màu xanh chờ sẵn ở đó để đưa hai người này xuất cảnh trái phép sang bờ biển Trung Quốc theo đường biển. Ngay sau đó, lực lượng Đồn Biên phòng Trà Cổ đã yêu cầu Phạm Văn D đưa đến vị trí bờ biển thì phát hiện người đàn ông tên Wu De H (tên phiên âm tiếng việt là Ngô Đức H) đang chờ sẵn trên chiếc xuồng máy màu xanh tại mép nước bờ biển Cồn Mang, H không xuất trình được giấy tờ thủ tục xuất, nhập cảnh.

Qua điều tra, xác định hành vi phạm tội của các bị can cụ thể như sau:

Phạm Văn D làm nghề lái xe ôm ở khu vực cửa khẩu Quốc tế Móng Cái. Tháng 12/2024, D có quen H nhưng không biết nhân thân lai lịch, chỉ có Zalo của H. Khoảng 11 giờ ngày 19/3/2025, H điện thoại qua Zalo cho D bảo đến quán nước chè tại đường Hoàng Quốc Việt, thành phố Móng Cái (nay thuộc phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh) đón H Jun (H Tuấn) và đến nhà thờ Trà Cổ, thành phố Móng Cái (nay thuộc phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh) đón Huỳnh Nga rồi chở 2 người này xuống khu vực bờ biển Cồn Mang thuộc khu Tràng Vỹ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái (nay là khu Tràng Vỹ, phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh) sẽ có người Trung Quốc lái xuồng màu xanh đón hai người này xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc bằng đường biển. H chụp ảnh xuồng máy màu xanh, vỏ máy xuồng màu trắng gửi qua Zalo cho D và dặn D phải xóa đi, đồng thời H còn dặn D thu tiền của người khách Trung Quốc tên H Jun (H Tuấn) để chuyển cho H vào số tài khoản mà H cung cấp, về tiền công H hứa trả D 3.000.000 đồng/người nếu xuất cảnh thành công.

Đến chiều cùng ngày 19/3/2025, D đón H Jun (H Tuấn) và Huỳnh Nga ở hai vị trí trên, D thu của H Tuấn số tiền 50.400.000 đồng, rồi ra ngân hàng Viettinbank Móng Cái để đổi lấy tiền tài khoản thì gặp khách đến giao dịch là chị Phạm Thị H (sinh năm 1973, trú tại Khu 4, phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh), D nhờ chị Phạm Thị H đổi tiền mặt để lấy tiền trong tài khoản, chị Phạm Thị H đồng ý nhận 50.400.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản của D. Ngay sau đó D tiếp tục chuyển khoản số tiền trên đến số tài khoản 0855572433 mang tên Trần Thị Hà mở tại ngân hàng MB do H cung cấp. Quá trình D chở hai người trên qua cửa khẩu biên phòng Trà cổ, còn cách vị trí bờ biển Cồn Mang khoảng 500m thì bị lực lượng biên phòng bắt giữ, yêu cầu D chỉ và đưa đến vị trí chờ để đón người ở bờ biển Cồn Mang, khi đến nơi D đã nhận ra đúng chiếc xuồng mà H chụp qua Zalo, người điều khiển xuồng là người Trung Quốc tên Wu De H (tên phiên âm tiếng việt là Ngô Đức H).

Còn về phía người điều khiển xuồng là Wu De H (Ngô Đức H) khai nhận ngày 19/3/2025 được một người tên Bạch Sa nhắn tin qua mạng ứng dụng WhatsApp thuê H đến bờ biển Việt Nam đón hai người bằng xuống máy, trả công là 300 nhân dân tệ/ 1 người để xuất cảnh trái phép từ bờ biển Việt Nam sang bờ biển Trung Quốc, đồng thời Bạch Sa dặn H sẽ có một người nam giới đi xe máy chở theo hai người 1 nam và 1 nữ trong đó có một người béo đậm, một người dáng cao, vì vậy khi thấy lực lượng Biên Phòng đưa người đi xe máy (sau này biết là Phạm Văn D), D có chở theo H Tuấn và Huỳnh Nga đến thì H có thể nhận đúng là những người mà Bạch Sa chỉ đạo để đón.

Về người khách xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc là H Jun (H Tuấn) khai tháng 3/2025, Tuấn liên hệ với một người bạn tên Hồ Nghiêm Phi ở Trung Quốc tìm cách về Trung Quốc với giá 50.000.000 đồng tiền Việt Nam, Phi hướng dẫn Tuấn đến cửa khẩu Móng Cái ngồi chờ ở quán nước. Sau đó, khi Phạm Văn D đi xe máy đến, Tuấn đã đưa cho người này số tiền 50.400.000 đồng. Còn Huỳnh Nga khai được một người phụ nữ tên Đa không rõ địa chỉ giới thiệu cho Zalo tên H giúp Nga xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc với giá 50.000.000 đồng, Nga đã chuyển khoản trước số tiền 14.400.000 đồng vào tài khoản 0855572433 mang tên Trần Thị Hà mở tại ngân hàng MB do H cung cấp.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra Phạm Văn D còn khai trước đó hai lần H chỉ đạo D đón khách ra bờ biển để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc trong đó một lần vào ngày 06/2/2025 đón khách nữ người Việt Nam, một lần vào ngày 07/02/2025 đón một khách nam người Trung Quốc đều từ quán nước chè (trùng với địa điểm đón người đàn ông Trung Quốc vào ngày 19/3/2025) chở xuống bãi cát sát bờ biển Cồn Mang (trùng với vị trí xuồng Trung Quốc đợi ngày 19/3/2025) và được H trả công hai lần tổng 6.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản 5.500.000 đồng từ tài khoản 0855572433 mang tên Trần Thị Hà mở tại ngân hàng MB đến tài khoản của D, còn 500.000 đồng D nhận trực tiếp từ khách. Khi giao khách đến bờ biển thì D thấy có người đàn ông đi trên xuồng xanh (chính là chiếc xuồng xanh đón người ngày 19/3/2025) chờ sẵn đón người, nhưng D không nhận dạng được người này.

Tại Cáo trạng số 224/CT-VKSQN-P1 ngày 26/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Phạm Văn D về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo điểm b khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự; Wu De H (Ngô Đức H) về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H) về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 03 năm đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 20/3/2025.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/3/2025.

Về vật chứng: đề nghị:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu đen thu giữ của Phạm Văn D; 01 xuồng máy màu xanh lắp 01 máy Honda, 02 điện thoại di động (01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng) thu giữ của Ngô Đức H.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển kiểm soát 14K1-117.61.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử kHn hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H) khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản kiểm tra hành chính lập hồi 16 giờ ngày 19/3/2025 của Tổ công tác Đồn Biên phòng Trà Cổ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 06, 07/02/2025, tại khu vực bờ biển Cồn Mang thuộc khu Tràng Vỹ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu Tràng Vỹ, phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh), Phạm Văn D đã 02 lần có hành vi tổ chức cho 02 người xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc (lần thứ nhất 01 người Việt Nam, lần thứ hai 01 người Trung Quốc), thu lời số tiền 6.000.000 đồng.

Tiếp tục vào ngày 19/3/2025, cũng tại địa điểm trên, Phạm Văn D cùng với Wu De H (Ngô Đức H) đang tổ chức cho 02 người (01 người Việt Nam, 01 người Trung Quốc) xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng phát hiện, bắt giữ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép" quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần tuyên cho mỗi bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.

Về vai trò: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó: bị cáo Phạm Văn D và bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) đều là người được các đối tượng khác (H, “Bạch Sa”,...) liên hệ qua ứng dụng Zalo hoặc WhatsApp thuê đưa và đón người từ Việt Nam qua Trung Quốc, mặc dù các bị cáo không quen biết nhau nhưng đều biết mình đang tham gia vào cùng một đường dây đưa người qua biên giới và cùng hướng tới mục đích phạm tội để nhận tiền công, do đó cả hai bị cáo đều được xác định là đồng phạm với vai trò là người thực hành tội phạm và có vai trò ngang nhau.

Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo D đã tự khai ra các lần phạm tội trước của mình (02 lần); đã tác động gia đình nộp tiền thu lợi bất chính tại Cơ quan thi hành án dân sự và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trong đó vợ bị cáo đang điều trị bệnh động kinh, nên được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ là quy định tại điểm r khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt tới đâu thì việc bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù là cần thiết để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.

Đối với lần đón 02 người Trung Quốc vào ngày 19/3/2025 để đưa xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc nhưng chưa đưa được qua biên giới đã bị phát hiện, bắt giữ, nên lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và được áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung:

- Các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Đối với bị cáo Wu De H (Ngô Đức H), bị cáo là người nước ngoài thực hiện hành vi phạm tội tại Việt Nam. Vì vậy, cần trục xuất bị cáo ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển kiểm soát 14K1-……. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo D mua lại của chị Nguyễn Thị H (Giấy chứng chứng đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H, chưa làm thủ tục sang tên). Bị cáo D sử dụng xe vào việc phạm tội, vợ bị cáo (chị Bùi Thị H) không biết, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển kiểm soát 14K1-1111; trả lại cho chị H ½ giá trị chiếc xe mô tô trên.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu trắng thu giữ của Ngô Đức H. Bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu đen thu giữ của Phạm Văn D; 01 xuồng máy màu xanh lắp 01 máy Honda và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng thu giữ của Ngô Đức H. Các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; 03 sim điện thoại kèm theo không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Về biện pháp tư pháp: bị cáo Phạm Văn D hưởng lợi 6.000.000 đồng. Xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có, cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền trên tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội D của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nội D khác:

- Đối với Trần Thị Hà khai có nhận và chuyển tiền giúp chị ruột là Trần Thị H (sinh năm 1993, trú tại: xã Đồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay là xã Kiến Xương, tỉnh Hưng Yên) nhưng không rõ đây là tiền có liên quan đến hành vi phạm tội hay không, qua xác minh Trần Thị H không có mặt tại địa phương, Cơ quan An ninh điều tra đã tách ra theo nguồn tin để tiếp tục xác minh, làm rõ.

- Đối với Huỳnh Nga và H Tuấn có hành vi xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, nhưng trước đó chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển hồ sơ đến để Đồn Biên phòng Trà Cổ Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm theo quy định.

- Đối với chị Phạm Thị H là người đổi tiền giúp D từ tiền mặt sang tiền tài khoản nhưng không biết tiền này liên quan đến tội phạm, nên không đề cập xử lý; Đối với Bạch Sa, người đàn ông tên Hồ Phi N, người phụ nữ có tên Đa do không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không điều tra xác minh làm rõ được.

Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H), phạm tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 348; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2025.

2.2. Căn cứ: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 37; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2025.

Hình phạt bổ sung: Trục xuất bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát 14K1-11111 (kèm theo 01 Giấy chứng chứng đăng ký xe mô tô, xe máy số 001235), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu đen thu giữ của Phạm Văn D; 01 xuồng máy màu xanh lắp 01 máy đuôi hiệu Honda, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu giữ của Ngô Đức H. Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại kèm theo.

- Trả lại cho chị Bùi Thị H (vợ bị cáo D) ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát 14K1-11111 trên.

- Trả lại cho bị cáo Wu De H (Ngô Đức H) 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu trắng.

(Tình trạng như Biên bản giao vật chứng số 25 ngày 04/9/2025 giữa Cơ quan An Ninh điều tra Công an tỉnh và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

4. Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Phạm Văn D phải nộp lại số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo D đã nộp đủ số tiền trên tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh theo Biên lai thu tiền số 0000358 ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Văn D và Wu De H (Ngô Đức H), mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị H) có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Hg) vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ