vanban.org

Bản án 119/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 24/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HS-ST
Ngày: 24-4-2025.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Lệ Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phú Bình

2. Bà Lê Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Triệu Hoàng Lan Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2025/HSST ngày 01/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HS ngày 10/4/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T – sinh năm 1984; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L; có vợ: Lê Thị N; có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: ngày 02/12/2003, Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích); ngày 17/3/2005, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản, 02 năm tù về Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù (đã xoá án tích); ngày 24/01/2018, Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích); ngày 11/6/2019, Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích); ngày 12/01/2023, Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 15/7/2024 - chưa xoá án tích); Danh chỉ bản số: 115, lập ngày 21/01/2025 tại Công an quận Đống Đa; bị cáo đầu thú, bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 14/01/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Đặng Ngọc T - sinh năm 1991; trú tại: khu 1, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ ngày 13/01/2025, anh Đặng Ngọc T1 (sinh năm 1991; trú tại: thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) đến Công an phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội trình báo về việc anh T1 bị mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 88L1 - 388.28 màu đỏ - đen - xám tại bãi gửi xe cổng số 3 - Bệnh viện Bạch Mai, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2025 đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/01/2025.

Hồi 12 giờ ngày 14/01/2025, Nguyễn Văn T đã đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. T: Khoảng chiều ngày 09/01/2025, Nguyễn Văn T bắt xe khách đi từ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đến khu vực đường Giải Phóng, phường Giáp Bát, Hà Nội với mục đích để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đi bộ vào khu vực bãi gửi xe cổng số 3 - Bệnh viện Bạch Mai thì phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 88L1 - 388.28 màu đỏ đen xám của anh Đặng Ngọc T1 có phần cốp xe bị kênh nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. T tiến lại gần dùng tay phải mở cốp xe thì thấy bên trong có 01 thẻ gửi xe máy có chữ “Bệnh viện Bạch Mai”. T lấy thẻ gửi xe và dắt chiếc xe máy qua cửa kiểm soát vé của bãi gửi xe do anh Nguyễn Mạnh T (sinh năm 1983; trú tại: số 1, ngách 42/53 đường X, phường X, quận B, Hà Nội - là bảo vệ của bãi trông xe) đang trông giữ. Khi dắt được xe máy qua cửa kiểm soát vé, T đi ra theo lối cổng số 3 của bệnh viện thì gặp anh Hồ Thành B (sinh năm 1999; trú tại: số 202 đường B, phường T, quận B, Hà Nội - là tài xế công nghệ của hãng Xanh SM) và thuê anh B đẩy xe cho T. Khi đến khu vực cổng Bệnh viện Việt Đức - địa chỉ: số 18 phố Phủ Doãn, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, T thanh toán 40.000 đồng cho anh B rồi gửi chiếc xe máy đã trộm cắp được vào bãi gửi xe máy trước cổng Bệnh viện Việt Đức. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, T quay lại bãi gửi xe máy trước cổng Bệnh viện Việt Đức để lấy chiếc xe máy trộm cắp được. Do không có tiền mặt nên T đã chuyển khoản số tiền 10.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số 105871546237 mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Viettinbank) của T cho anh Lê Bá H (sinh năm 1979; trú tại: tổ 5 Tư Đình, phường L, quận L, Hà Nội) để thanh toán tiền gửi xe. Sau đó, T tiếp tục dắt xe đến khu vực trước số 75 phố Hàng Bông, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì gặp anh Vũ Văn T2 (sinh năm 1968; trú tại: thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội) – là thợ sửa chữa khoá. Tại đây, T thuê anh T2 đánh chìa khóa xe máy với giá 120.000 đồng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi đánh được chìa khoá xe, T điều khiển xe máy về nhà tại thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để cất giấu đồng thời tháo và vứt biển kiểm soát 88L1 – 388.28 cùng 02 gương chiếu hậu của xe tại đường liên thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản – Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa, kết luận:

“01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen xám, không đeo biển kiểm soát, SK 102630, SM 102644, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 7.000.000 đồng”.

Đối với anh Hồ Thành B, anh Lê Bá H và anh Vũ Văn T2, tại Cơ quan điều tra, anh B, anh H và anh T2 khai cả ba đều không biết việc Nguyễn Văn T trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 88L1 - 388.28 màu đỏ đen xám và chỉ thu tiền dịch vụ của T theo đúng giá thực tế. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của T: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade không mang biển kiểm soát, 01 điện thoại di động Redmi Note 8 Pro màu xanh.

Đối với chiếc xe máy Honda Airblade không mang biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy trên là anh Đặng Ngọc T1. Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc xe máy trên cho anh T1. Anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Đối với 01 biển kiểm soát 88L1 - 388.28 và 02 chiếc gương chiếu hậu của xe máy, anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.

Bản cáo trạng số 93/CT-VKSĐĐ ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi Note 8 Pro màu xanh.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bị hại vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác nhận đã nhận lại chiếc xe máy, không yêu cầu giải quyết đối với 01 biển kiểm soát 88L1-388.28 và 02 gương chiếu hậu của xe máy, không có yêu cầu gì khác về phần dân sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, lời khai người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại không khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade trị giá 7.000.000 đồng của anh Đặng Ngọc T1. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, tạo nên tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây bức xúc trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động chính đáng. Xét nhân thân của bị cáo đã có 05 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, cần phải xử phạt tù giam rất nghiêm khắc mới bảo đảm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo đầu thú nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo không có khả năng thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu giải quyết đối với 01 biển kiểm soát 88L1-388.28, hai gương chiếu hậu của xe máy và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Đối với chiếc điện thoại Redmi Note 8 Pro màu xanh xét có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

. Các vấn đề khác:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/01/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng: - Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Các Điều 106, 136, 298, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tịch thu sung vào ngân sách 01 (một) điện thoại di động Redmi màu xanh, số imei: 864795048909865, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong (Tình trạng như Biên bản giao, nhận vật chứng số 183 ngày 28/3/2025 lập tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội).

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ