vanban.org

Bản án 119/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 19/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Châu Anh P

Phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Anh P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Châu Anh P
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - AN GIANG
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HS-ST
Ngày: 19/12/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Sô Phép

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mỹ

Bà Hồ Thị Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Sà Ron – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nhã Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Châu Anh P; Sinh ngày 01/01/1994 tại N, Kiên H, Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ 5 ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang); Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu H1 và bà Nguyễn Thị L; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Võ Trường V, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Thu H2, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang

- Người làm chứng:

+ Diệp Ngọc T, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

+ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 15/12/2024, Võ Trường V tổ chức uống bia cùng với nhóm bạn tại Cảng N thuộc ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang). Trong lúc uống bia, V điện thoại cho Diệp Ngọc T (là nhân viên tiếp bia trên đảo) đến để uống bia và phục vụ bàn, trong lúc uống bia, V hỏi mua dâm đối với T, sau khi thỏa thuận giá và địa điểm mua bán dâm thì V và T đến thuê phòng nghỉ P6 thuộc nhà trọ H3 tại ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang) để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, khi T và V đang thực hiện hành vi mua bán dâm, thì Châu A P là bạn trai của T đến trước cửa phòng trọ kêu T đi về, T kêu P về trước đi, nhưng P không chịu về, P dùng chân phải đập vỡ cửa kính, đi vào trong phòng P6. Khi P bước vào, nhìn thấy T và V đang nằm trên giường, đang không mặc quần áo. Thấy vậy P ghen tuông nên cầm mũ bảo hiểm đang đội, đánh trúng vào tay của V 01 (một) cái, V dùng chân đạp P té ngã trên nền gạch. Khi bị té ngã trên nền gạch, P dùng tay phải nhặt lấy 01 (một) mảnh kính bằng thủy tinh bị vỡ trước đó đâm trúng vào vùng hạ sườn trái của V 01 (một) nhát gây thương tích 16% (mười sáu phần trăm). Lúc này, T vào can ngăn, kéo P đi về nhà trọ của P cách nhà trọ Hồng Đ khoảng 50m. Khoảng 05 phút sau, P cầm cây dao yếm bằng kim loại đi qua nhà trọ Hồng Đ để chém V nhưng được mọi người can ngăn và P bỏ cây dao. Võ Trường V được mọi người đưa đến trạm y tế N cấp cứu. Ngày 20/02/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K khởi tố đối với Châu Anh P. (Bút lục số: 01; 28-29; 30-31; 32-33; 34-35; 36-37; 38- 39; 40-41; 42; 43; 44; 45; 81; 86-87; 88-89; 90-91; 92-93; 94-95; 97-98; 100; 101; 102; 109; 110; 152-153).

Bị cáo Châu Anh P đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Châu Anh P đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

* Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 42/KL TCT-PC ngày 05/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh K đối với Võ Trường V kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định: Vết thương vùng hạ sườn trái, gây tụ máu vùng cạnh hố lách đã được phẫu thuật thám sát và lấy máu tụ.

- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Trường V tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Vật gây thương tích: Vật sắc, nhọn.

2.3. Về thời điểm hình thành thương tích: Thương tích ở vùng hạ sườn trái được ghi nhận ngày 15/12/2024 phù hợp với thời điểm xảy ra vụ việc. (Bút lục: 20- 22).

Theo Công văn số 170/PY-GĐ ngày 11/11/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A trả lời như sau:

- Mãnh kính là vật sắc, nhọn.

- Hung khí trên có khả năng gây ra được thương tích của Võ Trường V tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 42/KTTTCT-PY, ngày 05/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh K (nay là Trung Tâm pháp y tỉnh A)

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh K (nay là Trung Tâm pháp y tỉnh A) nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Võ Trường V yêu cầu bị cáo bồi thường tiền điều trị bệnh, tiền công lao động và các chi phí khác là 35.000.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường cho bị hại được 5.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng chưa bồi thường (bút lục 60, 61).

* Theo bản cáo trạng số: 43/CT.VKSKV1 ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang truy tố bị cáo Châu Anh P về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Châu Anh P mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên, tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh kính cửa (bằng thủy tinh) bị vỡ có kích thước 15,5cm, một đầu rộng 3,9cm, 01 đầu nhọn bén, có 01 bề mặt trơn bóng, 01 bề mặt nhẫn hình họa tiết hoa văn nổi.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, bị hại Võ Trường V yêu cầu bị cáo bồi thường tiền điều trị bệnh, tiền công lao động và các chi phí khác là 35.000.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường cho bị hại được 5.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng chưa bồi thường.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Châu Anh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 03 giờ, ngày 15/12/2024, tại phòng nghỉ P6 thuộc nhà trọ H3 thuộc ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là A, đặc khu K, tỉnh An Giang) C P phát hiện bạn gái là Diệp Ngọc T đang mua bán dâm cho Võ Trường V nên ghen tuông đã dùng mảnh vỡ kính bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát trúng vào hạ sườn trái của Võ Trường V gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Châu A P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được rằng tính mạng, sức khỏe con người là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kỳ ai xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Do ghen tuông bị cáo P đã dùng mãnh kính cửa bị vỡ đâm vào vùng hạ sườn trái của bị hại V, gây thương tích 16%. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trái phép đến sức khỏe của bị hại, thể hiện sự xem thường tính mạng sức khỏe của người khác, xem thường pháp luật, từ hành vi này của bị cáo còn ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của bị hại, gây dư luận xôn xao và bất bình trong quần chúng nhân dân làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự trị an địa phương. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định; nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo khắc phục bồi thường 01 phần hậu quả cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo; bỡi vì từ khi xảy ra vụ việc đến nay bị cáo chỉ bồi thường cho bị hại được 5.000.000 đồng chứng tỏ bị cáo chưa chủ động, chưa tích cực sửa chữa bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại được quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị Quyết 04/2025 ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Trường V yêu cầu bị cáo bồi thường tiền điều trị bệnh, tiền công lao động và các chi phí khác là 35.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác. Bị cáo đồng ý và đã bồi thường cho bị hại được 5.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng chưa bồi thường; bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bồi thường số tiền còn lại sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh kính cửa (bằng thủy tinh) bị vỡ có kích thước 15,5cm, một đầu rộng 3,9cm, 01 đầu nhọn bén, có 01 bề mặt trơn bóng, 01 bề mặt nhẫn hình họa tiết hoa văn nổi, do vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với Võ Trường V, Diệp Ngọc T có hành vi mua bán dâm, tuy nhiên xét thấy chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Công an tỉnh A đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với V, T là phù hợp theo quy định.

Đối với hành vi Châu Anh P làm hư hỏng cánh cửa phòng P6 của bà Trần Thu H2, bà H2 không yêu cầu bồi thường tiền sữa chữa cánh cửa và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Châu Anh P

Phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Châu Anh P mức án 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, bị cáo Châu Anh P tiếp tục bồi thường cho bị hại Võ Trường V số tiền 30.000.000 đồng, sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh kính cửa (bằng thủy tinh) bị vỡ có kích thước 15,5cm, một đầu rộng 3,9cm, 01 đầu nhọn bén, có 01 bề mặt trơn bóng, 01 bề mặt nhẫn hình họa tiết hoa văn nổi (Theo quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSKV1 ngày 09/9/2015 của Viên kiểm sát nhân dân khu vực A1 – An Giang)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ * Nơi nhận:

Cỡ chữ