- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thi H xin ly hôn anh Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2025/HNGĐ - ST Ngày: 19/12/2025 V/v tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 475/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXX/HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1984;
HKTT: Thôn H, xã Chuyên M, thành phố Hà Nội
2. Bị đơn:
Anh Lê Văn T, sinh năm 1980;
HKTT: Thôn H, xã Chuyên M, thành phố Hà Nội.
Chị H có mặt, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về tình cảm: Chị H với anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (cũ) là quê hương anh T. Sau khi làm lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương, anh chuyển về chung sống cùng chị tại thôn H, xã Chuyên M. Tuy nhiên, mâu thuẫn sớm phát sinh do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, hơn thế mỗi lần rượu say, anh T lại đánh chị, đã nhiều lần chính quyền địa phương phải hòa giải, dàn xếp mâu thuẫn, anh cũng T hứa sẽ không thay đổi nH không làm được. Đến tháng 9/2025 chị buộc phải rời xa anh và sống ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, Hnh phúc không có, chị đề nghị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lê Anh D, sinh ngày 03/12/2010 và Lê Trần Bảo A, sinh ngày 24/12/2012. Các cháu đang ở cùng chị. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản, công nợ chung vợ chồng: Không có, chị không yêu cầu Tòa xét.
Về phía bị đơn, anh Lê Văn T trình bày:
Về tình cảm: Anh T xác nhận, việc anh kết hôn với chị Trần Thị H kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên mâu thuẫn, một phần nhân là do anh thỉnh thoảng có uống rượu say thì vợ chồng lại cãi chửi nhau, việc đánh đập chị H là có nH anh không cố ý. Đầu tháng 9/2025 chị H đã bỏ đi, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Tuy nhiên vì thương con nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lê Anh D sinh ngày 03/12/2010 và Lê Trần Bảo A sinh ngày 24/12/2012. Trường hợp ly hôn anh đề nghị được nuôi một cháu và các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Tài sản, công nợ chung vợ chồng: Không có, anh không yêu cầu Tòa xét.
Tại phiên tòa: Chị Trần Thị H giữ nguyên quan điểm về việc kiện. Anh Lê Văn T vắng mặt.
Đại diện VKSND khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn thực hiện nH chưa đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình. Đề nghị HĐXX, xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị H. Giao cả hai con chung là Lê Anh D sinh ngày 03/12/2010 và Lê Trần Bảo A sinh ngày 24/12/2012 cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Không xét quan hệ tài sản, công nợ chung vợ chồng. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở lời trình bày của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, các đương sự đều có nơi thường trú tại xã Chuyên M, thành phố Hà Nội, nên việc Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết việc kiện, anh Lê Văn T vắng mặt và có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, theo qui định của các điều 227, điều 228 của BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
. Về Nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Văn T có quan hệ hôn nhân hợp pháp, được thể hiện bằng việc các bên đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2007 tại UBND xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm,tỉnh Hà Nam (cũ) là quê của anh T. Sau khi cưới, anh T chuyển về chung sống cùng chị tại thôn H, xã Chuyên M, Thành phố Hà Nội là nơi cư trú của chị H. Quan hệ vợ chồng hòa thuận chỉ hoàn thuận khoảng một vài năm đầu sau khi kết hôn thì phát sinh mâu thuẫn. Phần do tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, phần như chính chị H, anh T và chính quyền địa phương xác nhận xác nhận, khi anh H uống nhiều rượu, thì thay đổi tâm tính, quay ra đánh chửi chị và không ít lần chính quyền, các đoàn thể địa phương phải dàn xếp, can thiệp, song hiệu quả không cao, khi anh vẫn tái diễn việc ngược đãi chị. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh T không đồng ý ly hôn với lý do thương con, nH anh lại không có quyết tâm hàn gắn, không đến Tòa để tham gia hòa giải và không một lần tìm động viện chị về đoàn tụ. Đến tháng 9/2025, thì chị H quyết định đem các con ra ngoài sống ly thân anh từ đó đến nay. HĐXX nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa các bên đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã nhiều năm, cần áp dụng các quy định của điều 39 BLDS, các điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lê Anh D sinh ngày 03/12/2010 và Lê Trần Bảo A sinh ngày 24/12/2012. Hiện chị đang chăm sóc. Xét chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, anh T thì đề nghị được nuôi một cháu. Bản thân cháu D và cháu Bảo A đều có nguyện vọng được chung sống với mẹ với lý do, sau khi các cháu về ở với mẹ, chưa một lần anh thăm nom, hỏi han gì đến các cháu. Mặt khác, chính quyền địa phương xác nhận anh T là người ham chơi, không chí thú làm ăn, thiếu trách nhiệm với gia đình vợ con. Vì vậy, cần thiết phải chấp nhận nguyện vọng của chị và các cháu, giao cả hai con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không đề nghị, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ chung vợ chồng: Chị H, anh T không yêu cầu, nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 39 BLDS; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là các cháu Lê Anh D sinh ngày 03/12/2010 và Lê Trần Bảo A sinh ngày 24/12/2012 cho chị Trần Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lê Văn T đến khi chị Trần Thị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Văn T được quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản, công nợ chung vợ chồng: Chị H, anh T không yêu cầu Tòa xét. Tòa không xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0017045 ngày 19/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời Hn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời Hn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTP Hà Nội
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND khu vực 12 - Hà Nội
- Chi cục THA khu vực 12 - Hà Nội
- Các đương sự
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Văn Quang
Thành viên Hội đồng xét xử
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Quang Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH T Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nH bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |