vanban.org

Bản án 119/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/7/2024. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Cao Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 119/2024/HS-ST
Ngày 17-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kim Niệm;

2. Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Văn Đ, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã QG, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Cao Văn Đ1 và bà Tạ Thị T; tiền án: Không;

Tiền sự:

Ngày 12/3/2024, bị Công an thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số 483 về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng;

Ngày 19/8/2024, bị Công an xã PH, huyện Phú Giáo ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp BL, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp BL, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1992. Vắng mặt;

+ Ông Phan Thành C, sinh năm 1988. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 28/07/2024, bị cáo Cao Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69E1-383.74 chở ông Nguyễn Văn N đến cửa hàng điện thoại di động TC thuộc tổ 3, ấp ĐC, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương do ông Phan Thành C làm chủ. Khi đến nơi, bị cáo Đ dừng xe ở lề đường, ông N xuống xe đi bộ vào trong cửa hàng điện thoại để chuộc lại điện thoại mà ông N đã cầm cố trước đó. Lúc này, bà Nguyễn Thị Cẩm G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 84H1-527.29 chở theo cháu Nguyễn Hải Đ, sinh năm 2020 vừa đến cửa hàng điện thoại di động TC, cháu Đ xuống xe chạy vào trong cửa hàng điện thoại, bà G đi vào trong bỏ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A58 màu đen trước hộc xe mô tô. Liền lúc này, bị cáo Đ nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của bà G, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô áp sát xe của bà G rồi dùng tay lấy điện thoại hiệu OPP0 A58 của bà G bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe bỏ về phòng trọ. Khoảng 5 phút sau, bà G phát hiện bị mất điện thoại nên nhờ chủ cửa hàng điện thoại trích xuất camera thấy bị cáo Cao Văn Đ lấy trộm điện thoại nên bà G đến Công an xã PH trình báo sự việc. Khoảng 30 phút sau, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô đến cửa hàng điện thoại di động để rước ông N thì bị ông Phan Thành C và Công an xã PH bắt giữ. Quá trình điều tra, bị cáo Cao Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen trị giá 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen của bà Nguyễn Thị Cẩm G;

- 01 (một) xe mô tô biển số 69E1-383.74 do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu A50 màu đen bị bể màn hình của bị cáo Cao Văn Đ;

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung Galaxy S20+ màu đen bị bể màn hình của ông Nguyễn Văn N.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSPG ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Cao Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Cao Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Cẩm G đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Cao Văn Đ bồi thường nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen của bà Nguyễn Thị Cẩm G. Ngày 10/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà G, bà G nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

- 01 (một) xe mô tô biển số 69E1-383.74 do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu. Năm 2021, bà N bán lại cho một người không rõ nhân thân lai lịch nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ông Đặng Văn T1 trình bày: Xe mô tô biển số 69E1-383.74 mua lại của một người nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 28/7/2024, bị cáo Cao Văn Đ mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, việc bị cáo Đ trộm cắp tài sản ông T1 không biết. Ngày 16/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 69E1-383.74 cho ông Đặng Văn T1, ông T1 nhận lại xe mô tô và không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu A50 màu đen bị bể màn hình của bị cáo Cao Văn Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Đ, bị cáo Đ nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung Galaxy S20+ màu đen bị bể màn hình của ông Nguyễn Văn N. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông N, ông N nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại là điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen trị giá 3.000.000 đồng. Bị cáo thống nhất với tội danh, hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 28/7/2024, tại cửa hàng điện thoại di động TC thuộc tổ 3, ấp ĐC, xã PH, huyện Phú giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo Cao Văn Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen trị giá 3.000.000 đồng của bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm G để ở hộc xe mô tô biển số 84H1-527.29.

Hành vi của bị cáo Cao Văn Đ lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu đen trị giá 3.000.000 đồng, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Cao Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét động cơ, mục đích phạm tội vì tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài không phải hao tốn sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần có mức phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[4] Đối với ông Nguyễn Văn N là người đi cùng với bị cáo Cao Văn Đ đến cửa hàng điện thoại di động TC thuộc vào ngày 28/7/2024. Tại thời điểm bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ông N đi vào trong cửa hàng để chuộc điện thoại, ông N không biết bị cáo Đ trộm cắp điện thoại hiệu Oppo A38 của bà Nguyễn Thị Cẩm G, ông N và bị cáo Đ không bàn bạc với nhau về việc trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú giáo không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét. Do đó, HĐXX không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, sau khi ông N biết bị cáo Đ trộm cắp tài sản nhưng không báo với cơ quan có thẩm quyền là có dấu hiệu tội “Không tố giác tội phạm”, tuy nhiên tội phạm do bị cáo Đ thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên hành vi của ông N chưa đủ yếu tố để cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú giáo không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

[5] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Cẩm G đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Cao Văn Đ bồi thường nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại quá trình điều tra, việc xử lý vật chứng là phù hợp, có căn cứ nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/7/2024.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Cao Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ