vanban.org

Bản án 119/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Trương Hồng N và anh Đỗ Hồng P.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 cho anh Đỗ Hồng P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Chị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhung - Phúc"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Trương Hồng N và anh Đỗ Hồng P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2024
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Nguyễn Minh Hoàng

2/. Ông Nguyễn Văn Tịnh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 317/2024/TLST - HN ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Phan Trương Hồng N, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận

2/. Bị đơn: Anh Đỗ Hồng P, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu

(Chị N, anh P có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phan Trương Hồng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Đỗ Hồng P Vợ chồng cưới nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/12/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn G và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị N xác định: thời gian đầu sống chung với nhau thì cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Nhưng thời gian sau cuộc sống của vợ chồng ngày càng căng thẳng, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn.

Về quan hệ con chung: chị Phan Trương Hồng N xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022. Khi ly hôn, chị N đồng ý giao con chung cho anh P nuôi dưỡng và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Đối với anh Đỗ Hồng P: Mặc dù anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh P vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, anh P có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án sẽ xét xử vắng mặt anh theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Đỗ Hồng P chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: giữa chị N và anh P kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, qua làm việc anh P cũng đồng ý ly hôn với chị N nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị N và anh P là phù hợp với quy định của pháp luật;

Về con chung: Từ lúc chị N và anh P ly thân thì người con là Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 sống cùng với anh P đến nay. Anh P vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này, đồng thời chị N cũng thống nhất, tự nguyện giao con chung cho anh P nuôi dưỡng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao người con là Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị N và anh P không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị N và anh P phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị N có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh P. Anh P có địa chỉ cư trú tại huyện Đ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị N, anh P có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N.

Về nội dung vụ án: giữa chị N và anh P kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn G cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 09/12/2022 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh P thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị N và anh P lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân trong nhiều tháng qua. Trong thời gian này cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Điều này chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị N và anh P là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Qua làm việc chị N yêu cầu ly hôn thì anh P cũng đồng , nên căn cứ vào Điều 51, Điều 55 Luật hôn nhân gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị N và anh P là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Từ lúc chị N và anh P ly thân thì người con là Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 sống cùng với anh P đến nay. Anh P vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này, đồng thời chị N cũng thống nhất, tự nguyện giao con chung cho anh P nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao người con là Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: chị N và anh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Trương Hồng N và anh Đỗ Hồng P.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con Phan Thanh T, sinh ngày: 17/02/2022 cho anh Đỗ Hồng P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.

Chị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Anh P không yêu cầu Chị N phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: là 150.000 đồng, chị N chịu 75.000 đồng, anh P chịu 75.000. Chị N tự nguyện nộp cho anh P. Chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010360 ngày 14 tháng 6 năm 2024 được chuyển thu án phí 150.000 đồng. H lại cho chị N 150.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải .

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Phan Trương Hồng N và anh Đỗ Hồng P biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ