- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 22/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định điều kiện tá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2024/DS-PT Ngày 20 tháng 03 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyên sư dung đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang T1
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Thanh M
Ông Đinh Chí T
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyên Thi Kiêu O - Thư ky Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đ - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ ly số 373/2023/TLPT-DS, ngày 22 tháng 11 năm 2023 vê viêc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyên sư dung đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C1, tỉnh Đ bi kháng cáo.
Theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2024/QĐ-PT ngày 23/01/2024, Quyết đinh hoan phiên tòa số 81/2024/QĐ-PT ngày 21/2/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đỗ Thanh N, sinh năm 1965.
Đia chỉ: Số 132/38, đường Võ Trường Toản, Khóm 04, Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ.
Người đại diên theo ủy quyên của ông N: Anh Vũ Tuấn A1, sinh năm 1970. Đia chỉ: Số 103, đường Chi Lăng, Phường 3, thành phố C1, tỉnh Đ (Theo văn bản ủy quyên ngày 15/3/2023).
- Bị đơn: Trần Hoài P2, sinh năm 1970.
Đia chỉ: Số 608, đường Trần Hưng Đạo, Tổ 37, Khóm 4, Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ.
- Người có quyên lợi, nghĩa vu liên quan: Lê Thi Ngọc B, sinh năm 1971.
Đia chỉ: Số 608, đường Trần Hưng Đạo, Tổ 37, Khóm 4, Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ.
(Anh Vũ Tuấn A1 có mặt. Anh Trần Hoài P2 và chị Lê Thị Ngọc B có đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ Thanh N (có anh Vũ Tuấn A1 là người đại diện theo uỷ quyền) trình bày:
Ông N là chủ sử dụng diên tích đất 210,7m2, thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 40 (trong đó 194m2 đất ở đô thi và 16,7m2 đất lâu năm). Trên diên tích đất có căn nhà cấp 4, 01 tầng, khung bê tông cốt thép có diên tích 108m2. Nhà và đất toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ.
Phía trước thửa đất nêu trên của ông N là phần đất của ông P2 có diên tích đất 40m2, thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 40 đất trồng cây lâu năm, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ, cho nên ông N muốn đi ra ngoài đường Trần Hưng Đạo thì phải đi qua thửa đất này của anh P2. Trước đây, ông N vẫn đi nhờ qua thửa đất của anh P2. Đến ngày 01/01/2006, ông N thoả thuận mua của anh P2 diên tích đất ngang 2,9m, dài 11m, tổng diên tích là 31,9m2 để làm lối đi với số tiên 110.000.000 đồng.
Hai bên thoả thuận mua bán phần diên tích đất này bằng “giấy bán đất” viết tay do anh P2 viết và ky tên. Tại thời điểm này, hộ anh P2 có 02 người là anh P2 và vợ là chi B. Sau đó, ông N đa giao đủ tiên cho anh P2, anh P2 cũng đa bàn giao đất cho ông N quản ly và sử dụng làm lối đi từ khi mua cho đến nay.
Trên diên tích đất ông N mua của anh P2 từ trước đến nay vẫn là đất trống không có tài sản hay vật kiến trúc gì.
Nhiêu lần ông N yêu cầu anh P2 và vợ là chi B tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng đất bằng viêc tách thửa để chuyển quyên sử dụng cho ông N phần đất lối đi nói trên nhưng anh P2 và chi B nại ra nhiêu ly do không thực hiên.
Nay ông N yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B phải tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất cho ông N phần diên tích đất 39,9m2 (trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ky đất đai thành phố C1, tỉnh Đ vào ngày 09/5/2023) thuộc một phần thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ, diên tích đất do Uỷ ban nhân dân thành phố C1 cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho anh P2 vào ngày 13/9/2010.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Hoài P2: Không có văn bản ghi y kiến.
- Theo biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ngọc B khai: Chi B không biết viêc chuyển nhượng giữa ông N và anh P2 và chi B không chuyển nhượng gì với ông N. Nguồn gốc đất là của cha anh P2 là ông Cuối, sau khi ông Cuối chết thì các anh chi em phân chia tài sản. Nay chi B không đồng y theo yêu cầu của ông N vì chi B không có liên quan.
Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C1, tỉnh Đ quyết định.
1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất được xác lập ngày 01/01/2006 giữa ông Đỗ Thanh N và anh Trần Hoài P2 vô hiêu.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Thanh N yêu cầu anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất xác lập ngày 01/01/2006 có diên tích ngang 2,9m, dài 11m (đo đạc thực tế 39,9m2) trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, Đ thể hiên theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ky đất đai thành phố C1, tỉnh Đ vào ngày 09/5/2023.
3. Buộc anh Trần Hoài P2 trả cho ông Đỗ Thanh N số tiên 110.000.000 đồng (Một trăm mười triêu đồng).
Buộc ông Đỗ Thanh N trả lại cho anh Trần Hoài P2 diên tích đất 39,9m2 trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A thuộc một phần thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, Đ.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm đinh tại chỗ ngày 09/5/2023; Biên bản đinh giá tài sản ngày 06/7/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 09/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ky đất đai thành phố C1).
Kể từ ngày bản án, quyết đinh có hiêu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyên chủ động ra quyết đinh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiên phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chiu khoản lai cho số tiên còn phải thi hành án theo mức lai suất quy đinh tại Điêu 357 và khoản 2 Điêu 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên vê chi phí, án phí, quyên và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/9/2023 ông Đỗ Thanh N kháng cáo bản án sơ thẩm: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiên của ông Đỗ Thanh N buộc anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B phải tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất cho ông N phần diên tích đất 39,9m2 (trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ky đất đai thành phố C1, tỉnh Đ vào ngày 09/5/2023) thuộc một phần thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ, diên tích đất do Uỷ ban nhân dân thành phố C1 cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho anh P2 vào ngày 13/9/2010.
Tại phiên toa phúc thâm:
- Người đại diên theo ủy quyên của nguyên đơn là ông Vũ Tuấn A1 vẫn giữ yêu cầu khởi kiên và yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Thanh N. Đê nghi Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiên và yêu cầu kháng cáo của ông N. Công nhận viêc chuyển nhượng phần đất mà ông P2 đa bán cho ông N vào ngày 01/01/2006 và chấp nhận cho ông N được quyên sử dụng đất. Ông N không yêu cầu ông P2 tách thửa vì hiên tại diên tích tranh chấp không đủ để tách thửa theo quy đinh, sau này Nhà nước có cấp giấy hoặc nếu đủ điêu kiên thì ông N sẽ làm thủ tục đăng ky sau đối với diên tích đo đạc thực tế là 39,9m2 thuộc một phần thửa 172, tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố C1.
- Bi đơn anh Trần Hoài P2 vắng mặt nhưng có văn bản xin xét xử vắng mặt, kèm theo bản tường trình có xác nhận của chính quyên đia phương với nội dung: Ngày 01/01/2006, được sự đồng y của cha anh P2 là cụ Trần Văn Cuối (1917-2010) nên anh P2 đa ky “giấy bán đất” thỏa thuận bán với giá 110.000.000 đồng cho ông N phần đất làm lối đi ngang 2,9m x dài 11m (dài hết thửa đất) thuộc một phần thửa 172, tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố C1 do UBND thành phố C1 cấp ngày 01/11/2009 cho hộ ông Cuối. Ngày 14/8/2010 sau khi cha anh P2 chết, tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Đ các thành viên trong hộ và hàng thừa kế thứ nhất của ông Cuối đa lập “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản” nhường phần thừa kế cho anh P2 đối với thửa đất 172. Đến ngày 13/9/2010 anh P2 được UBND thành phố C1 cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất đối với thửa 172 này.
Nhận thấy anh P2 đa nhận đủ tiên bán đất, còn ông N đa nhận đất và quản ly sử dụng từ khi bán đất năm 2006 cho đến nay và tại thời điểm này anh P2 cũng đa được đứng tên quyên sử dụng đất nên anh P2 đồng y thực hiên chuyển nhượng phần đất đa bán cho ông N ngày 01/01/2006 diên tích đo đạc thực tế là 39,9m2 thuộc một phần thửa đất 172, tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố C1.
- Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan chi Lê Thi Ngọc B vắng mặt nhưng có văn bản xin xét xử vắng mặt và kèm theo bản tường trình có xác nhận của chính quyên đia phương với nội dung: Chi B với anh P2 là vợ chồng. Chi B thống nhất với y kiến của chồng chi B là anh P2, đê nghi Tòa án giải quyết đúng theo quy đinh của pháp luật.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viên kiểm sát và viêc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
Vê tố tụng: Viêc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ ly, giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đa thực hiên đúng quy đinh. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử công khai, đúng trình tự thủ tục tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quyên và nghĩa vụ theo quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự vắng mặt đa được Tòa án triêu tập hợp lê lần thứ 2 và các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, nên viêc xét xử vắng mặt là đúng theo quy đinh.
Vê nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Đê nghi Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C1, tỉnh Đ theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Thanh N. Chấp nhận sự tự nguyên của anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B vê viêc tiếp tục thực hiên chuyển nhượng phần đất đa bán cho ông N theo giấy bán đất ghi ngày 01/01/2006 diên tích đo đạc thực tế là 39,9m2 thuộc một phần thửa 172, tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố C1 do ông Trần Hoài P2 đứng tên quyên sử dụng đất. Công nhận cho ông N được quyên sử dụng đất, khi nào có đủ diêu kiên thì đến cơ quan có thẩm quyên đăng ky quyên sử dụng đất theo quy đinh do hiên tại diên tích không đủ theo quy đinh để tách thửa.
NHÂN ĐINH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đa được xem xét tại phiên tòa; quan điểm của đại diên Viên kiểm sát Tỉnh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận đinh như sau:
[1] Vê tố tụng: Xác đinh tranh chấp giữa ông Đỗ Thanh N và ông Trần Hoài P2 là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất. Tòa án nhân dân thành phố C1 thụ ly giải quyết là đúng quy đinh của pháp luật vê thẩm quyên được quy đinh tại các Điêu 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đơn kháng cáo của ông Đỗ Thanh N còn trong hạn luật đinh, hợp lê đúng theo quy đinh tại Điêu 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Đối với bi đơn ông Trần Hoài P2 và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thi Ngọc B thì Tòa án đa triêu tập hợp lê nhưng các đương sự này vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt đúng theo quy đinh nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy đinh tại Điêu 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Vê nội dung: Ông Đỗ Thanh N kháng cáo yêu cầu anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất xác lập ngày 01/01/2006 có diên tích ngang 2,9m, dài 11m (đo đạc thực tế 39,9m2) trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, Đ thể hiên theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ky đất đai thành phố C1, tỉnh Đ vào ngày 09/5/2023.
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự đêu thống nhất ngày 01/01/2006 anh Trần Hoài P2 có chuyển nhượng cho ông Đỗ Thanh N diên tích đất ngang 2,9m, dài 11m, đất toạ lạc tại tổ 37, khóm 4, Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ với giá 110.000.000 đồng, hai bên có làm “giấy bán đất” viết tay do anh P2 viết và ky tên. Ông N đa giao đủ số tiên 110.000.000 đồng cho anh P2, anh P2 cũng đa giao đất cho ông N và ông N đa quản ly, sử dụng diên tích đất từ năm 2006 cho đến nay để sử dụng làm lối đi. Năm 2020, ông N đa tráng nên xi măng, anh P2 không có cản trở. Do đó, xác đinh, viêc anh P2 chuyển nhượng cho ông N diên tích đất 2,9m, dài 11m, toạ lạc tại tổ 37, khóm 4, Phường 1, thành phố C1, tỉnh Đ là có thật.
[2.2] Tuy thời điểm anh P2 chuyển nhượng đất cho ông N vào năm 2006 anh P2 chưa được cấp quyên sử dụng đất, vê hình thức thì Hợp đồng chuyển nhượng ngày 01/01/2006 giữa ông N và anh P2 chỉ được viết tay không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyên nên vi phạm vê hình thức được quy đinh tại Điêu 122, 124, 401, 689 Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên năm 2009, thì hộ cụ Trần Văn Cuối (là ba của anh P2) được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất. Năm 2010, cụ Trần Văn Cuối chết các con của cụ Cuối gồm Trần Hoài Nhi, Trần Hoài P2 và Trần Thi Sương thống nhất thoả thuận phân chia di sản thừa kế để lại diên tích tích 74m2, thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, Đ cho anh Trần Hoài P2 đứng tên quyên sử dụng đất và hiên tại anh P2 đa được UBND thành phố C1 cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất vào ngày 13/9/2010.
Trong quá trình Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết, anh P2 và chi B xin vắng mặt nhưng có bản tường trình có xác nhận của chính quyên đia phương là đồng y tiếp tục thực hiên chuyển nhượng phần đất đa bán cho ông N ngày 01/01/2006 diên tích đo đạc thực tế là 39,9m2 thuộc một phần thửa đất 172, tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố C1.
[2.3] Theo văn bản số 505/UBND-TNMT ngày 05/3/2024 của UBND thành phố C1 vê viêc cung cấp thông tin thì căn cứ vào Điêu 10 Quyết đinh số 22/2021/QĐ-UBND ngày 31/8/2021 của UBND tỉnh Đ quy đinh: Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày Quy đinh này có hiêu lực thi hành hoặc thửa đất hình thành từ quyết đinh giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyên, bản án hoặc quyết đinh của Tòa án nhân dân, quyết đinh thi hành án của cơ quan thi hành án, trường hợp thừa kế phân chia quyên sử dụng đất đa được pháp luật công nhận, mà diên tích thửa đất nhỏ hơn diên tích tối thiểu nhưng có đủ điêu kiên cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất, thì người sử dụng đất được tách thửa và cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm ông Vũ Tuấn A1 là người đại diên theo ủy quyên của ông N chỉ yêu cầu công nhận viêc chuyển nhượng phần đất mà ông P2 đa bán cho ông N vào ngày 01/01/2006 và chấp nhận cho ông N được quyên sử dụng phần đất 39,9m2 thuộc một phần thửa đất 172, tờ bản đồ số 40. Ông N không yêu cầu ông P2 tách thửa, sau này nếu có đủ điêu kiên thì ông N sẽ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyên làm thủ tục đăng ky đối với diên tích tranh chấp này, do đó yêu cầu của ông Đỗ Thanh N là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Từ những nhận đinh trên, xét thấy do các bên đương sự đa thống nhất và hoàn toàn tự nguyên tiếp tục thực hiên viêc chuyển nhượng phần đất có diên tích đo đạc thực tế là 39,9m2 thuộc một phần thửa đất 172, tờ bản đồ số 40 nên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất được xác lập ngày 01/01/2006 giữa ông Đỗ Thanh N và anh Trần Hoài P2 là hợp pháp.
[4] Xét kháng cáo của ông Đỗ Thanh N là có cơ sở, xét đê nghi của đại diên Viên kiển sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lảnh, tỉnh Đ.
[5] Vê án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên phần án phí được tính như sau:
- Vê án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của ông Đỗ Thanh N được chấp nhận nên không phải chiu tiên án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông N 300.000 đồng tiên tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012151, ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C1, tỉnh Đ.
Anh Trần Hoài P2 phải chiu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Vê án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên ông Đỗ Thanh N không phải chiu án phí dân sự phúc thẩm theo quy đinh tại khoản 2 Điêu 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Vê chi phí xem xét, thẩm đinh tại chỗ và đinh giá tài sản số tiên là 4.432.000 đồng ông Đỗ Thanh N tự nguyên nộp và đa chi xong.
[7] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bi kháng cáo, kháng nghi có hiêu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐINH:
Căn cứ Điêu 147, khoản 2 Điêu 148, Điêu 158, Điêu 166 và khoản 2 Điêu 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghi quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy đinh vê mức thu, miên, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lê phí Tòa án.
Tuyên xử.
Chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Thanh N.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C1, tỉnh Đ.
Chấp nhận sự tự nguyên của anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B vê viêc tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất được xác lập ngày 01/01/2006 có diên tích ngang 2,9m, dài 11m (đo đạc thực tế 39,9m2) trong phạm vi các mốc A, B, Q, N, T, R trở vê mốc A thuộc thửa số 172, tờ bản đồ số 40, toạ lạc tại Phường 1, thành phố C1, Đ.
( Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/5/2023; Biên bản định giá tài sản ngày 06/7/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 09/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C1).
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất được xác lập ngày 01/01/2006 có diên tích ngang 2,9m, dài 11m (đo đạc thực tế 39,9m2) giữa ông Đỗ Thanh N với anh Trần Hoài P2 và chi Lê Thi Ngọc B.
Ông Đỗ Thanh N được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyên lập thủ tục để đăng ky và cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất đối với diên tích đất nêu trên khi đủ điêu kiên theo quy đinh của pháp luật vê đất đai.
- Vê án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đỗ Thanh N không phải chiu tiên án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông N 300.000 đồng tiên tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012151, ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C1, tỉnh Đ.
Anh Trần Hoài P2 phải chiu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Vê án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Thanh N không phải chiu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông N 300.000 đồng tiên tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006866, ngày 06/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C1, tỉnh Đ (do ông Vũ Tuấn A1 nộp thay).
- Vê chi phí xem xét, thẩm đinh tại chỗ và đinh giá tài sản số tiên là 4.432.000 đồng ông Đỗ Thanh N tự nguyên nộp và đa chi xong.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bi kháng cáo, kháng nghi có hiêu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghi.
Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy đinh tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyên yêu cầu thi hành án, tự nguvên thi hành án hoặc bi cưõng chế thi hành án theo quy đinh tại các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiêu thi hành án được thực hiên theo quy đinh tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiêu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND TP. C - TAND TP. C; - Chi cục THADS TP.C; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS (O). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Quang T1 |