- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị N và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Yến N và anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1992; Nơi cư trú: Ấp A, xã PC, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp PHA, xã PTA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 8 năm 2023, biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến N trình bày: Vào năm 2009 (không nhớ ngày tháng), chị và anh Lê Văn T cưới nhau, hôn nhân do mai mối nhưng anh chị vẫn đồng ý và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PC, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau này tỉnh cảm vợ chồng không còn. Đến đầu tháng 12 năm 2020 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, thường xuyên cải nhau. Đến năm 2021 thì vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Trong thời gian không còn sống chung thì cả hai không có liên lạc để hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể thể sống chung với nhau nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2009 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Văn T đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Văn T; về nuôi con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2009 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Yến N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Yến N trình bày không có, còn anh Lê Văn T không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Yến N và anh Lê Văn T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến N đối với anh Lê Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị Yến N thì cuộc sống của chị và anh Lê Văn T không hạnh phúc từ tháng 12 năm 2020 do hai vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm gia đình, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, trong thời gian không còn sống chung thì cả hai không có liên lạc để hàn gắn tình cảm. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Yến N với anh T hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Yến N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Yến N ly hôn với anh Lê Văn T.
Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Yến N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2009 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Yến N và anh T không còn sống chung và hiện nay thì 02 con chung do chị Yến N chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Tường V cũng có nguyện vọng sống với mẹ, còn cháu Tường L dưới 03 tuổi, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Yến N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Yến N không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Yến N cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Lê Văn T không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Yến N và anh Lê Văn T.
2. Về việc nuôi con chung:
2.1. Chị Nguyễn Thị Yến N được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2009 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021.
2.2. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Yến N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006010 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND X.PC, H.TN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |