vanban.org

Bản án 119/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N. Bà Huỳnh Thị Cẩm N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Huỳnh Phương T1, sinh ngày 21/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận bà Huỳnh Thị Cẩm N không yêu cầu ông Nguyễn Văn Hùng T cấp dưỡng cho con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Huỳnh Thị Cẩm N, bị đơn Nguyễn Văn Hùng T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N. Bà Huỳnh Thị Cẩm N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 02-8-2023.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Chánh Thể.

2. Ông Nguyễn Văn Thuận.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đình T1 – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Khóm 3, thị trấn Định An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hùng T, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấp Cầu Hòa (Ấp 4), xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, bà N và ông T vắng mặt (bà N có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vắng mặt, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Cẩm N trình bày:

Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T vào năm 2008. Ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, ông bà lên Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê sinh sống. Đến năm 2010, bà sinh con và về quê của bà ở tỉnh Trà Vinh sinh sống gần 01 năm. Sau đó bà gửi con cho gia đình ở quê và ông bà tiếp tục lên Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê. Trong giai đoạn này, ông T thường xuyên uống rượu, không lo làm nên ông bà thường xuyên tranh cãi. Ông bà ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Bà nhận thấy bà và ông T không còn tình cảm, không thể hàn gắn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Bà và ông T có 01 người con chung là Nguyễn Huỳnh Phương T1, sinh ngày 21/9/2010, hiện cháu T1 đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con.

Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung với ông T. Bà và ông T không có nợ chung.

Vì hoàn cảnh gia đình nên bà đề nghị Tòa án cho bà vắng mặt phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn không tham gia các phiên họp, hòa giải theo yêu cầu của Tòa án. Bị đơn chưa tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T, cụ thể:

- Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị Cẩm N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T.

- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Huỳnh Phương T1, sinh ngày 21/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Ghi nhận bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: bà N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: bà N trình bày không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn Hùng T. Ông T cư trú tại xã N, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N, ông T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà N thì bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn nhưng không tự giải quyết được. Ông bà không chung sống với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Với yêu cầu xin ly hôn của bà N, ông T không có ý kiến phản đối, bỏ mặc cho bà N tự giải quyết.

Xét thấy, từ khi bà N nộp đơn khởi kiện cho đến nay, bà N và ông T không cải thiện được tình cảm vợ chồng để kéo dài đời sống chung, giữa bà N và ông T không còn tình nghĩa vợ chồng vì không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, ông bà đã không chung sống với nhau trong thời gian dài. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của bà N và ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N để giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà N thì bà N và ông T có 01 người con chung là Nguyễn Huỳnh Phương T1, sinh ngày 21/9/2010, hiện cháu T1 đang sống với bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, ông T không có ý kiến phản đối.

Xét thấy, cháu T1 đang sống với bà N, được bà N chăm sóc, giáo dục tốt và cháu T1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà N. Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà N có quyền yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, do bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà N trình bày bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung với ông T, bà và ông T không có nợ chung. Đối với ông T thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà N phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N. Bà Huỳnh Thị Cẩm N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Hùng T.

2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Huỳnh Phương T1, sinh ngày 21/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ghi nhận bà Huỳnh Thị Cẩm N không yêu cầu ông Nguyễn Văn Hùng T cấp dưỡng cho con.

Ông Nguyễn Văn Hùng T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Huỳnh Thị Cẩm N trình bày bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung với ông Nguyễn Văn Hùng T, bà và ông T không có nợ chung. Đối với ông T thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm N phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003352 ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ