vanban.org

Bản án 119/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn V 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 23/9/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Văn V để bảo đảm thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn V "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2022/HS-ST
Ngày 28-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đức Bản

Bà Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2022/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Văn V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1993 tại Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn V1 và bà Lê Thị P; vợ: Trần Thị Mỹ L, đã ly hôn; con: có 01 người, sinh năm 2014.

Tiền án: 03 tiền án.

- Ngày 14/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 03/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 16/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 01/11/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” ;

- Ngày 14/5/2014, bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã thi hành.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2022 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Đặng Thị V, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn Hà Thôn, xã B, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

2. Anh Trà Văn L, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

3. Anh Trịnh Xuân H, sinh năm 1973, địa chỉ: Tổ dân phố 4 Phú Vinh, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian ngày 6/7/2022 đến 13/7/2022, Đặng Văn V là đối tượng có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản của chị Đặng Thị Vân (là chị gái của Việt) tại nhà ông Đặng Văn V1 (là bố đẻ Việt) có địa chỉ tại thôn Trung Nghĩa 6, xã Nghĩa Ninh, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, cụ thể:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 07 giờ ngày 06/7/2022, lợi dụng lúc tất cả mọi người trong nhà đi vắng Việt đã lén lút lấy trộm 02 lóng gỗ Lim xanh để trước sân nhà rồi nhờ anh Trà Văn Lâm chở đến bán cho anh Trịnh Xuân Hiền ở TDP 4 Phú Vinh, phường Bắc Nghĩa, thành phố H được số tiền 700.000 đồng, số tiền bán gỗ Lâm và Việt tiêu xài hết.

Bản Kết luận định giá số 113/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 02 lóng gỗ Lim xanh có tổng khối lượng 0,087m3 có tổng giá trị 652.500 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 11 giờ ngày 09/7/2022, Đặng Văn V tiếp tục lấy trộm 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật), 02 hộp gỗ Gụ mật (Gõ mật) rồi nhờ anh Trà Văn Lâm chở đến bán cho anh Trịnh Xuân Hiền được số tiền 500.000 đồng, số tiền bán gỗ Lâm và Việt tiêu xài hết.

Bản Kết luận định giá số 113/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật) có khối lượng 0,070m3 có giá 1.400.000 đồng; 02 hộp gỗ Gụ mật (Gõ mật) có khối lượng 0,024m3 có giá 480.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 1.880.000 đồng.

Vụ thứ 3: Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2022, Đặng Văn V tiếp tục lấy trộm 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật), 01 lóng gỗ Lim xanh rồi nhờ anh Trà Văn Lâm chở đến bán cho anh Trịnh Xuân Hiền được số tiền 1.050.000 đồng, số tiền bán gỗ Lâm và Việt tiêu xài hết.

Bản Kết luận định giá số 113/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật) có tổng khối lượng 0,081m3 có giá 1.620.000 đồng; 01 lóng gỗ Lim xanh có tổng khối lượng 0,026m3 có giá 195.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 1.815.000 đồng.

Vụ thứ 4: Khoảng 17 giờ ngày 13/7/2022, Đặng Văn V tiếp tục lấy trộm 02 lóng gỗ Gụ mật, 01 hộp gỗ Gụ mật, 01 lóng gỗ Lim xanh rồi nhờ anh Trà Văn Lâm chở đến bán cho anh Trịnh Xuân Hiền được số tiền 300.000 đồng, số tiền bán gỗ Lâm và Việt tiêu xài hết.

Bản Kết luận định giá số 113/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố H kết luận: 02 lóng gỗ Gụ mật có tổng khối lượng 0,056m3 có giá 1.120.000 đồng, 01 hộp gỗ Gụ mật có khối lượng 0,029m3 có giá 580.000 đồng, 01 lóng gỗ Lim xanh có khối lượng 0,029m3 có giá 217.500 đồng. Tổng giá trị tài sản: 1.917.500 đồng.

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã thu giữ tại nhà anh Trịnh Xuân Hiền 13 hộp, lóng gỗ thuộc 02 loài là Gụ mật (Gõ mật) và Lim xanh, tổng khối lượng: 0,402 m3, gồm:

- 03 (ba) hộp và 06(sáu) lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật) có tổng khối lượng 0,260m3; ký hiệu: GĐ03, GĐ04, GĐ05, GĐ06, GĐ07, GĐ08, GĐ10, GĐ12, GĐ13;

- 04 (bốn) lóng gỗ Lim xanh có khối lượng 0,142m3; ký hiệu: GĐ01, GĐ02, GĐ09, GĐ11.

Trách nhiệm dân sự:

Chị Đặng Thị Vân không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Trịnh Xuân Hiền yêu cầu Đặng Văn V bồi thường 2.550.000 đồng

Những vấn đề liên quan khác:

Đối với anh Trà Văn Lâm là người được Việt nhờ chở số gỗ mà Việt lấy trộm được đi tiêu thụ và anh Trịnh Xuân Hiền là người đã mua lại số gỗ trên. Tuy nhiên quá trình điều tra không có căn cứ để xác định anh Trà Văn Lâm, anh Trịnh Xuân Hiền biết nguồn gốc số gỗ trên là do Việt trộm cắp được nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xem xét trách nhiệm của những người này.

Số gỗ trên do chị Đặng Thị Vân mua, gửi tại nhà bố mẹ ruột để sử dụng làm nhà ở, qua xác minh số gỗ này không có nguồn gốc hợp pháp. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 6.000.000 đồng đối với chị Vân về hành vi Tàng trữ lâm sản trái phép. Chị Vân đã thi hành xong.

Cáo trạng số 110/CT - VKSĐH - KT ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Đặng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Bị cáo Đặng Văn V khai nhận diễn biến hành vi phạm tội của mình đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã mô tả và truy tố, không oan.

Bị hại chị Đặng Thị Vân thay đổi lời khai, có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 6.265.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi đánh giá chứng cứ, tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn V từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Đặng Văn V bồi thường cho anh Trịnh Xuân Hiền số tiền 2.550.000 đồng, bồi thường cho chị Đặng Thị Vân số tiền 6.265.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước 13 hộp, lóng gỗ thuộc 02 loài là Gụ mật (Gõ mật) và Lim xanh, tổng khối lượng: 0,402 m3.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Văn V, bị hại chị Đặng Thị Vân không tranh luận về tội danh và mức hình phạt, trách nhiệm dân sự mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo trong bản luận tội.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên những hành vi, quyết định đã thực hiện là hợp pháp.

- Về sự có mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt anh Trà Văn Lâm, anh Trịnh Xuân Hiền là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét thấy quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai, tài liệu chứng cứ liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp của những người này. Việc họ vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

. Về xác định tội phạm

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người thân trong gia đình, trong khoảng thời gian từ ngày 6/7/2022 đến 13/7/2022, Đặng Văn V đã có 04 lần một mình lén lút trộm cắp tài sản là số gỗ của chị Đặng Thị Vân- chị gái của bị cáo gửi tại nhà bố đẻ là ông Đặng Văn Vượng, tại thôn Trung Nghĩa 6, xã Nghĩa Ninh, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 06/7/2022, trộm cắp 02 lóng gỗ Lim xanh, trị giá 652.500 đồng, đem bán được số tiền 700.000 đồng;

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 09/7/2022, trộm cắp 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật), 02 hộp gỗ Gụ mật (Gõ mật), trị giá 1.880.000 đồng, đem bán được số tiền 500.000 đồng;

Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2022, trộm cắp 02 lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật), 01 lóng gỗ Lim xanh, trị giá 1.815.000 đồng, đem bán được số tiền 1.050.000 đồng;

Lần thứ tư: Khoảng 17 giờ ngày 13/7/2022, trộm cắp 02 lóng gỗ Gụ mật, 01 hộp gỗ Gụ mật, 01 lóng gỗ Lim xanh, trị giá 1.917.500 đồng, đem bán được số tiền 300.000 đồng.

Mặc dù cả 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của Đặng Văn V đều có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Đặng Văn V đang có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, hành vi trên đây của Đặng Văn V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã nhiều lần kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị xử phạt hành chính và đang có 03 tiền án về tội danh này, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy phải xét xử và có hình phạt thực sự nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đang có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân rất xấu, coi thường pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, tự cải tạo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tiếp tục thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đặng Văn V là người không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng gồm 13 hộp, lóng gỗ thuộc 02 loài là Gụ mật (Gõ mật) và Lim xanh, tổng khối lượng: 0,402 m3, quá trình điều tra đã có căn cứ xác định chị Đặng Thị Vân tàng trữ trái phép số lâm sản này. Vì vậy, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn V đã gây thiệt hại cho chị Đặng Thị Vân số tiền 6.265.000 đồng, gây thiệt hại cho anh Trịnh Xuân Hiền số tiền 2.550.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Hiền yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã gây thiệt hại. Tại phiên tòa chị Vân thay đổi lời khai, có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã gây thiệt hại. Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trịnh Xuân Hiền số tiền 2.550.000 đồng, bồi thường cho chị Đặng Thị Vân số tiền 6.265.000 đồng.

. Liên quan trong vụ án:

Đối với anh Trà Văn Lâm là người mà bị cáo đã nhờ chở gỗ đi bán sau mỗi lẫn lấy trộm được và đã cùng với Việt tiêu thụ số tiền có được từ việc bán số gỗ đó; anh Trịnh Văn Hiền là người đã mua số gỗ do bị cáo lấy trộm được. Tuy nhiên, quá trình điều tra không có căn cứ để xác định những người này biết nguồn gốc gỗ là do bị cáo lấy trộm được nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm của anh Trà Văn Lâm, anh Trịnh Xuân Hiền.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Bình về các căn cứ pháp luật, đề xuất hình phạt, trách nhiệm dân sự và án phí là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; các điều 106, 329 Bộ luật tố tụng hình sự; các điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Đặng Văn V 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 23/9/2022).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Văn V để bảo đảm thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đặng Văn V.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 13 hộp, lóng gỗ thuộc 02 loài là Gụ mật (Gõ mật) và Lim xanh, tổng khối lượng: 0,402 m3, gồm:

- 03 (ba) hộp và 06(sáu) lóng gỗ Gụ mật (Gõ mật) có tổng khối lượng 0,260m3; ký hiệu: GĐ03, GĐ04, GĐ05, GĐ06, GĐ07, GĐ08, GĐ10, GĐ12, GĐ13;

- 04 (bốn) lóng gỗ Lim xanh có khối lượng 0,142m3; ký hiệu: GĐ01, GĐ02, GĐ09, GĐ11.

(Tình trạng vật chứng trên thể hiện theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 09/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

4. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Đặng Văn V phải bồi thường cho anh Trịnh Xuân Hiền số tiền 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng), bồi thường cho chị Đặng Thị Vân số tiền 6.265.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho người được thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 440.700 đồng (Bốn trăm bốn mươi ngàn, bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ