- Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN HOÀI ĐỨC TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2022/HS-ST Ngày: 18/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – TP HÀ NỘI
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Toản và bà Nguyễn Thị Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, TP Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2022/TLST - HS ngày 19 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐHPT-HS ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/4/1979, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 17/1/2022), con ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1955 và con bà Đỗ Thị B, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị Nhật H, sinh năm 1981; có 02 con cùng sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
Ngƣời làm chứng: anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Văn N có quan hệ họ hàng với Nguyễn Đức T. Đầu năm 2021, do có nhu cầu xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp tại khu Bồ Đàm, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội của mình nên thông qua anh Nguyễn Văn D, anh N đã gặp Nguyễn Đức T tại nhà anh Nguyễn Văn D tại thôn Thượng Thụy, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. Tại đây, anh N đặt vấn đề nhờ Nguyễn Đức T lo giúp các thủ tục để anh N được xây dựng nhà ở trên thửa đất nông nghiệp. T đồng ý và thống nhất anh N sẽ phải đưa T số tiền 40.000.000 đồng. Sáng ngày 12/01/2021, anh N đã dùng số tài khoản 19036436806014 tại Ngân hàng Techcombank, chuyển số tiền 40.000.000 đồng đến tài khoản số 2202205200409 tại ngân hàng Agribank của T. Sau đó T đã chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi biết T nhận tiền của mình nhưng không giúp nên ngày 03/5/2021, anh N đã nhắn tin cho T với nội dung “ Việc của e a không lo được. a cho em xin lại tiền để e lo làm nhà cho xong! A thông cảm giúp e”. T nhắn tin hẹn anh N cuối tháng 5/2021 sẽ trả lại tiền. Tuy nhiên, vào cuối tháng 5/2021, anh N tiếp tục nhắn tin đề nghị T trả tiền nhưng T nhiều lần trốn tránh, không trả tiền cho anh N.
Ngày 20/3/2022, anh Nguyễn Văn N đã đến trụ sở Công an huyện Hoài Đức trình báo về việc bị Nguyễn Đức T lừa đảo chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 USB màu đen có ghi nhãn hiệu 2020LG Nonocell màu hồng, dung lượng 16GB. Bên trong có 02 đoạn ghi âm việc thỏa thuận số tiền 40.000.000 đồng để xây dựng nhà ở trên đất tại khu Bồ Đàm, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội giữa Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T.
- Bản ảnh tin nhắn thể hiện số tài khoản và việc chuyển tiền giữa Nguyễn Văn N và Nguyễn Đức T.
- Bản photo Giao dịch chuyển tiền qua hệ thông Banking từ Nguyễn Văn N cho Nguyễn Đức T.
- Số tiền 40.000.000 đồng do Nguyễn Đức T giao nộp khắc phục hậu quả.
Ngày 24/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành khám xét nhà ở của của Nguyễn Đức T tại Khu 1, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, kết quả: không thu giữ được gì.
Ngày 06/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 149/QĐ-ĐTHS trưng cầu Viện khoa học hình sự
- Bộ công an giám định đối với 02 đoạn ghi âm do Nguyễn Văn N giao nộp.
Tại bản kết luận giám định số 2188/KL-KTHS ngày 13/5/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an xác định:
“ Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp ghi âm mẫu cần giám định.
Tiếng nói của ba người đàn ông trong mẫu gửi giám định đúng là tiếng nói của Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T.
Nội dung hội thoại trong các tệp ghi âm mẫu cần giám định đã được chuyển T văn bản.”
Ngày 23/3/2022, Cơ quan CSĐT công an huyện Hoài Đức đã có công văn số 268, 269/CQĐT-ĐTHS gửi Ngân hàng Techcombank đề nghị cung cấp thông tin đối với tài khoản 19036436806014 của Nguyễn Văn N và Ngân hàng Agribank đề nghị cung cấp thông tin đối với tài khoản 2202205200409 của Nguyễn Đức T.
Ngày 01/4/2022, Ngân hàng Techcombank đã có văn bản số 40/2022/TCB-QNM trả lời: Thông tin tài khoản Nguyễn Văn N, số CCCD: 001086021762, số điện thoại sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử: 0985797191; Phát sinh giao dịch chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng với nội dung “Em Nam chuyen khoan” vào ngày 12/01/2021.
Ngày 29/3/2022, Ngân hàng Agribank đã có văn bản số 178/NHNHĐ-KTNQ trả lời: Thông tin tài khoản Nguyễn Đức T, số CCCD: 002079007134, số điện thoại sử dụng dịch vụ SMS banking: 0832323288, phát sinh giao dịch nhận số tiền 40.000.000 đồng với nội dung “Em Nam chuyen khoan” vào ngày 12/01/2021.
Tại biên bản làm việc ngày 19/7/2022 tại UBND thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, ông Nguyễn Văn Hùng – Chủ tịch UBND thị trấn cung cấp: Từ ngày 01/01/2021 đến tháng 7 năm 2021, Nguyễn Đức T giữ chức Phó chủ tịch HĐND thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. Từ tháng 7/2021 đến ngày 17/6/2022 giữ chức Phó chủ tịch UBND thị trấn Trạm Trôi huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. Hiện Nguyễn Đức T đã bị bãi nhiệm hết các chức vụ. Trong suốt quá trình công tác từ 01/01/2021 đến tháng 7 năm 2021, Nguyễn Đức T không có chức năng nhiệm vụ giải quyết vụ việc về đất đai và xây dựng nhà ở trên đất.
Về dân sự: Sau khi được thông báo về việc Nguyễn Đức T đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 40.000.000 đồng anh Nguyễn Văn N không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, TP Hà Nội đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 30 đến 36 tháng; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả cho anh Nguyễn Văn N số tiền 40.000.0000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đức T T khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/01/2021, tại nhà anh Nguyễn Văn D ở thôn Thượng Thụy, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, Nguyễn Đức T đã nhận giúp anh Nguyễn Văn N việc xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp tại khu Bồ Đàm, thị Trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội và anh N phải chuyển cho T số tiền 40.000.000 đồng. Ngày 12/01/2022, anh Nguyễn Văn N đã chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Đức T nhưng sau khi nhận tiền T không giúp được anh N và đã tiêu xài cá nhân hết. Tại thời điểm nhận tiền Nguyễn Đức T là Phó chủ tịch HĐND thị trấn Trạm Trôi biết mình không có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai xây dựng nhưng vẫn nhận lời giúp N xây dựng nhà trên đất nông nghiệp nên N tin và chuyển tiền cho bị cáo. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an xã hội; bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố đẻ bị cáo là thương binh là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 USB màu đen có ghi nhãn hiệu 2020LG Nonocell màu hồng, dung lượng 16GB. Bên trong có 02 đoạn ghi âm việc thỏa thuận số tiền 40.000.000 đồng để xây dựng nhà ở trên đất tại khu Bồ Đàm, thị trấn Trạm Trôi, huyên Hoài Đức, TP Hà Nội giữa Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T; Bản ảnh tin nhắn thể hiện số tài khoản và việc chuyển tiền giữa Nguyễn Văn N và Nguyễn Đức T; Bản photo Giao dịch chuyển tiền qua hệ thông Banking từ Nguyễn Văn N cho Nguyễn Đức T là tài liệu trong hồ sơ nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 40.000.000 đồng là tài sản bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục cho anh Nguyễn Văn N, anh N có nguyện vọng được nhận lại số tiền trên nên cần trả lại cho anh Nguyễn Văn N.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử lý vật chứng, biện pháp tƣ pháp: Trả lại anh Nguyễn Văn N số tiền 40.000.000 đồng.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho bạc nhà nước huyện Hoài Đức, TP Hà Nội theo Ủy nhiệm chi ngày 18/10/2022 giữa Công an huyện Hoài Đức và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP Hà Nội).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
+ Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND.TP. Hà Nội; - VKSND.H. Hoài Đức; - Công an H. Hoài Đức; - Chi cục THADS.H. Hoài Đức; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp TP. Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Quỳnh |