- Tranh chấp gì? án hình sự — "CƯỚP GIẬT TÀI SẢN - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Xuân C, Ngô Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”; Phùng Xuân H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 119 /2022/HS-ST Ngày 31-10-2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án huyện Chương Mỹ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2022/TLST-HS ngày 11/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2022/QĐXXST-HS ngày 13/10/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phùng Xuân C
Sinh ngày 26/12/2003 Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn A, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12;
Nghề ngH2: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Bố đẻ: Phùng Xuân P - sinh năm 1981; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L - sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Ngày 12/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định khởi tố bị cáo về tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự;
- Ngày 17/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định khởi tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự;
- Ngày 22/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định khởi tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác, tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.(Có mặt)
2. Họ và tên: Ngô Văn H
Sinh ngày 21/7/2005 Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn M, xã T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 9/12;
Nghề ngH2: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Bố đẻ: Ngô Văn T - sinh năm 1979; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T - sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/5/2022 đến ngày 23/5/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Đến ngày 05/8/2022 bị cáo bị bắt tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội.( Có mặt)
3. Họ và tên: Phùng Xuân H1
Sinh ngày 20/7/2004 Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề ngH2: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Bố đẻ: Phùng Xuân M - sinh năm 1979; Mẹ đẻ: Đinh Thị L - sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/5/2022 đến ngày 23/5/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; hiện đang tại ngoại tại địa phương.( Có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của Ngô Văn H: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (bố mẹ đẻ H); địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. ( Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn H, Phùng Xuân H1: Ông Nguyễn Tất D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội.( Có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn B, sinh ngày 09/5/2007; địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của anh B: bà Phạm Thị B, sinh năm 1979 (mẹ đẻ B); địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.( Vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh B: Bà Dương Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội.( Có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá V, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện Chương Mỹ, tp Hà Nội.( Vắng mặt)
SđtNỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn H có quen biết từ trước với Phùng Xuân H1 và Phùng Xuân C. Ngày 13/5/2022, C bàn bạc với H qua mạng xã hội Facebook xem quen ai có xe mô tô để lừa gạt họ chiếm đoạt xe mô tô mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, H đồng ý. Do H quen biết với cháu Nguyễn Văn B (sinh ngày 09/5/2007; trú tại thôn Y, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; tính đến ngày 13/5/2022 B mới 15 tuổi 4 ngày), nên khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, H nhắn tin cho B có xe mô tô không đến để đón H, mục đích để lừa mượn xe mô tô của B rồi mang đi cầm cố. Sau khi nhận được tin nhắn của H, B điều khiển 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc BKS: 29X2- 017.87 chở theo Nguyễn Đình H2 (sinh ngày 16/9/2005; trú tại thôn Trại Cốc, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; là bạn của B) đến đón H.
Khi gặp được H, B điều khiển xe chở H2 và H đến quán nước tại cổng trường THPT Nguyễn Văn Trỗi thuộc xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội uống nước. Tại đây, C và H1 đã đợi sẵn từ trước đó. H, B và H2 vào ngồi uống nước được khoảng 15 phút thì C nói H chở B và H2 đi đón Nguyễn Khắc H1 (sinh năm 1999; trú tại thôn An Thuận 2, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; là bạn của H), với mục đích để tách B và H2 ra. Khi đến nhà H1, B điều khiển xe chở H, H2 và H1 đến quán nước tại sân bóng A, xã H để uống nước. Khi đến nơi, H1 và H2 xuống xe trước, H thì vẫn ngồi trên yên xe phía sau, còn B lúc này đã đứng 02 chân dưới mặt đất, còn tay vẫn nắm giữ 02 tay lái của xe mô tô. Lúc này, H hỏi B cho mượn chiếc xe mô tô, nhưng B chưa nói gì, chưa kịp có phản ứng là đồng ý cho mượn xe hay không, thì H đã chủ động dùng tay đẩy B ra khỏi xe, rồi H điều khiển xe mô tô phóng đi, khi chưa được B đồng ý. H điều khiển xe đến đón C và H1 ở quán nước khi trước. Sau đó, C, H và điều khiển xe mô tô đến cầm cố chiếc xe mô tô H vừa chiếm đoạt được cho anh Nguyễn Bá V (sinh năm 1984; trú tại thôn Mỹ Thượng, xã H, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) được số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). C chia cho H số tiền 1.300.000đ, chia cho H1 số tiền 500.000đ còn lại C được H1 lợi số tiền 3.200.000đ.
Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, cháu B đến Công an xã H trình báo sự việc. Căn cứ đơn trình báo của cháu B, Công an xã H đã triệu tập Ngô Văn H để ghi lời khai, xác minh làm rõ hành vi của H. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/5/2022, Phùng Xuân H1 đã đến Công an huyện Chương Mỹ đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng liên quan đến sự việc.
Cơ quan điều tra đã thông báo cho anh Nguyễn Bá V biết nguồn gốc chiếc xe mô tô mà C, H, H1 mang đến cầm cố là do phạm tội mà có. Anh Vinh đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô đã nhận cầm cố của các đối tượng trên để phục vụ công tác điều tra.
Sau khi xảy ra sự việc, Phùng Xuân C bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 12/8/2022, C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị cáo và Lệnh tạm giam về tội Cướp tài sản, quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự (trong vụ án xảy ra ngày 21/7/2022 tại xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội).
* Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, BKS: 29X2-017.87; cũ đã qua sử dụng.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 17/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ, kết luận:
“ Hội đồng định giá theo hồ sơ tài liệu Công an huyện Chương Mỹ cung cấp và tham khảo giá thị trường tại thời điểm tháng 5/2022.
- 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 29X2-017.87, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, SM: JA39E2450038, SK: RLHJA3927MY424824, đăng ký lần đầu ngày 22/01/2022, cũ còn sử dụng được. Có giá trị là: 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).”
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Sau khi xảy ra sự việc, cháu Nguyễn Văn B không bị thương tích, tổn thất gì nên không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì về dân sự.
Anh Nguyễn Bá V không yêu cầu Phùng Xuân C bồi thường số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, BKS: 29X2-017.87: Cơ quan điều tra xác định anh Mai Ngọc Tuân (sinh năm 2000; trú tại thôn Nghê, xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nêu trên. Ngày 16/5/2022, anh T có đơn xin lại tài sản để sử dụng. Ngày 23/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 49/QĐ-CQĐT trao trả chiếc xe mô tô nêu trên cho anh T. Anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 116/CT-VKS-CM ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố :
- Phùng Xuân C, Ngô Văn H về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điềm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
- Phùng Xuân H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: - Các bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi Cướp tài sản như nội dung Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các Phùng Xuân C, Ngô Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”; Phùng Xuân H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Xuân C từ 39- 42 tháng tù
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, i,s khoản 1 và khoản 2Điều 51 Điều 91, Điều 101Bộ luật hình sự xử phạt Ngô Văn H từ 36- 39 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b i, s khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Xuân H1 từ 6- 9 tháng tù nhưng cho H1 án treo.
Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Anh Nguyễn Bá V không yêu cầu Phùng Xuân C bồi thường số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn H, Phùng Xuân H1: Ông Nguyễn Tất Doanh – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội có ý kiến.Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo là nhận thức kém độ tuổi vị thành niên, gia đình các bị cáo H, H1 đã bồi thường cho bị hại; bị cáo H1 khi phạm tội phạm tội lần đầu thộc trường hợp ít nghiêm trọng;Bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho các bị cáo gia đình bị cáo H gia đình có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với bị cáo H các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; Điều 91,101BLHS ; Áp dụng đối với bị cáo H1 các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 điều 51BLHS cho các bị cáo H, H1 H1 mức án thấp nhất, bị cáo H1 H1 mức án treo để cải tạo tại địa phương.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo, phê chuẩn quyết định khởi tố bị cáo, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam, về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị cáo, lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu định giá tài sản, về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị cáo, bị hại. Quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình đối với bị cáo.
[1.2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
. Về nội dung:
. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Phùng Xuân C và Ngô Văn H bàn bạc, thống nhất từ trước để tìm cách chiếm đoạt tài sản là xe mô tô của những người quen biết rồi mang tài sản đi cầm cố. Ngày 13/5/2022, H nhắn tin cho cháu B đi xe mô tô đến đón mình nhằm tiếp cận tài sản, rồi lợi dụng sơ hở của cháu B để chiếm đoạt của cháu B, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29X2-017.87, trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Sau khi lấy được xe của cháu B, H điều khiển chiếc xe đến gặp, rồi cùng Phùng Xuân C, Phùng Xuân H1 đi tiêu thụ chiếc xe mô tô vừa chiếm đoạt, được số tiền 5.000.000đ(Năm triệu đồng). C chia cho H số tiền 1.300.000đ, chia cho H1 số tiền 500.000đồng còn lại C được H1 lợi số tiền 3.200.000đồng.
Hành vi của Ngô Văn H: Điều động để rồi tiếp cận xe mô tô của cháu B, sau đó, lợi dụng sơ hở của cháu B, khi cháu B đã xuống xe, hai chân đã đứng trên mặt đất còn 2 tay thì vẫn nắm 2 bên tay lái, H thì đang ngồi sau trên yên xe của cháu B, H đã gạt tay cháu Nguyễn Văn B, rồi H nhanh chóng điều khiển xe mô tô phóng đi, rồi cùng C và H1 đem cắm lấy tiền tiêu sài. Khi bị chiếm đoạt xe mô tô ngày 13/5/2022, B mới 15 tuổi 4 ngày, nên Ngô Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Phùng Xuân C, là người đã bàn bạc, thống nhất với H từ trước nhằm chiếm đoạt tài sản của cháu B. Sau khi H lấy được xe mô tô của cháu B, C là người mang xe mô tô đi cầm cố và chia tiền cho H và H1. Nên C đồng phạm với H về tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Phùng Xuân H1: Không tham gia bàn bạc trước với H và C, nhưng sau khi H lấy được xe của cháu B mang đến chỗ C và H1. H1 đã biết chiếc xe mô tô đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn cùng C và H mang chiếc xe mô tô đến cầm cố cho anh Nguyễn Bá V lấy tiền chi tiêu chung, nên H1 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố các bị cáo Ngô Văn H, Phùng Xuân C, Phùng Xuân H1 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
. Xét loại, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, thể hiện tính coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
. Xét vị trí, vai trò của các bị cáo:
Ngô Văn H là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Phùng Xuân C, là người bàn bạc, thống nhất với H từ trước nhằm chiếm đoạt tài sản của cháu B. Sau khi H lấy được xe mô tô của cháu B, C là người mang xe mô tô đi cầm cố và chia tiền cho H và H1 nên H và C có vai trò cao trong vụ án.
Phùng Xuân H1 cùng C và H mang chiếc xe mô tô đến cầm cố cho anh Nguyễn Bá V lấy tiền chi tiêu chung nên có vai trò thấp hơn trong vụ án.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
* Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phùng Xuân H1 có tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” bồi thường cho bị hại và “Đầu thú” theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội H1 mới 17 tuổi 9 tháng 23 ngày nên cần áp dụng Điều 91,101 đối với bị cáo.
Bị cáo Phùng Xuân C có tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Ngô Văn H có tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” bồi thường cho bị hại, gia đình có công với cách mạngtheo quy định tại điểm b,s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội H mới 16 tuổi 9 tháng 22 ngày nên cần áp dụng Điều 91,101 đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Bá V đề nghị Phùng Xuân C bồi thường số tiền 5.000.000đ, sau đó anh V có đơn đề nghị không yêu cầu các bị cáo pH bồi thường số tiền 5.000.000đồng, đây là sự tự nguyện của anh V nên chấp nhận.
Buộc các bị cáo pH truy nộp số tiền chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng cụ thể như sau: Phùng Xuân C số tiền 3.200.000 đồng; Ngô Văn H số tiền 1.300.000đồng; Phùng Xuân H1 số tiền 500.000 đồng.
[2.6]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016: buộc các bị cáo pH nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phùng Xuân C, Ngô Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”; Phùng Xuân H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
Phùng Xuân C 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1khoản 2 Điều 51;Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt
Ngô Văn H 24 tháng tù ( Hai mươi bốn) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/05/2022 đến ngày 23/5/2022 .
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Điều 91; Điều 101Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Xuân H1 9 ( chín) tháng tù nhưng cho hương án treo, nhưng cho H1 án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Buộc các bị cáo H truy nộp số tiền chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng cụ thể như sau: Phùng Xuân C số tiền 3.200.000 đồng; Ngô Văn H số tiền 1.300.000đồng;Phùng Xuân H1 số tiền 500.000 đồng.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Giao bị cáo Phùng Xuân H1 cho Ủy ban nhân nhân xã H, huyện Chương Mỹ, Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trường hợp người được H1 án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được H1 án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được H1 án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H1 án treo.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phùng Xuân C, Ngô Văn H, Phùng Xuân H1 mỗi bị cáo pH nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
TM . Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm -TAND Tp Hµ Néi;
ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ -VKSND Tp Hà Nội;
- VKSND huyÖn Chương Mỹ;
- CA huyÖn Chương Mỹ:
- THA huyÖn Chương Mỹ; -Bị c¸o, bị hại;
- Những người tham gia tố tụng;
Vương Đăng Khoa
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| N¬i nhËn: -TAND Tp Hµ Néi; -VKSND Tp Hà Nội - VKSND huyÖn Chương Mỹ; - CA huyÖn Chương Mỹ: - THA huyÖn Chương Mỹ -Bị c¸o, bị hại. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM . Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Vương Đăng Khoa Nguyễn Hữu Quý |