vanban.org

Bản án 119/2022/DS-PT — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/07/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

án Dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh.

UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản của ông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Đòi tài sản giữa ông N đối với ông C"
  • Tòa quyết gì? án Dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2022/DS-PT
Ngày 08-7-2022
V/v “Tranh chấp đòi tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Văn Cường;

Ông Phạm Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 6 và ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án

nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

74/2022/TLPT-DS ngày 18 tháng 4 năm 2022, về việc “Đòi tài sản”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022,

của Tòa án nhân dân thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 112/2022/QĐPT-DS

ngày 24 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn N (tên gọi khác: Đỗ Xuân N), sinh năm 1937;

địa chỉ:, ấp 5, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí M; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N: Luật sư Trần Minh T –

là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước

tỉnh Tây Ninh; Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Trọng C (tên gọi khác: Trần Trung Cuộc), sinh năm

1953; địa chỉ: ấp Lộc Th, xã N, thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh;(có đơn đề nghị xét

xử vắng mặt);

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công an huyện A, Thành phố

Hồ Chí M; địa chỉ: tỉnh lộ 8, khu phố 5, thị trấn C, Thành phố Hồ Chí M.

Người đại diện hợp pháp của Công an huyện A, Thành phố Hồ Chí M: ông

Nguyễn Quốc V; Chức vụ: Phó Đội trưởng Đội An Ninh Công an huyện A – là

người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 3652/UQ-CACC 01-12-

2020); có mặt.

4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Đỗ Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ

Văn N trình bày:

Ngày 20/7/1975, Trưởng Công an xã Th (ông Đỗ Văn M) bắt ông về xã,

khi bắt không có lập biên bản và thu giữ của ông tài sản gồm: Đồng hồ hiện titoni trên mặt có 12 hột xoàn đỏ, trị giá 12 chỉ vàng 24k; 01 sợ dây đồng hồ vàng 18k, trọng lượng 10 chỉ; 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k; 1.600 đồng tiền tiền mới đổi, trị giá 800.000.000 đồng; 01 giấy chuyển sinh hoạt Đảng tên Đỗ N chuyển sinh hoạt từ xã Phước Vĩnh An lên Công an huyện A; 01 giấy phép chở lúa từ Hóc Môn về Củ Chi; 01 bằng lái xe tải nặng; 01 bằng quân y; 01 bằng y tế Ngụy. Sau khi bắt ông tạm giữ 01 đêm thì chuyển ông lên Công an huyện H, tại đây lập biên bản giao nhận người và tài sản, ông có ký tên, lăn tay vào biên bản và được giữ 01 bản.

Sau đó Công an huyện H chuyển ông về Công an huyện A, có lập biên bản

và Công an huyện H bắt buộc ông phải giao lại biên bản của Công an huyện H, khi bàn giao người và tang vật cho Công an Củ Chi thì ông không được giữ biên bản giao nhận. Ông bị Công an Củ Chi tạm giữ khoảng 5 – 6 tháng thì chuyển về Công an Thành phố Hồ Chí M. Đến ngày 31/8/1977, chuyển ông về trại giam của Bộ Công an, không ra Tòa xét xử. Đến ngày 27/9/1983 ông được tha tù nhưng bị quản chế 01 năm.

Từ năm 1991 ông bắt đầu đến Ủy ban nhân dân huyện A, Công an huyện A

để đòi lại tài sản nhưng Công an A trả lời không thu giữ tài sản của ông, ông tiếp tục khiếu kiện lên Công an Thành phố Hồ Chí M cũng không được chấp nhận.

Ngày 28-4-94, ông C đã xác nhận vào biên bản nhận tài sản của ông. Mặc

dù ông C thông tin đã giao tài sản của ông cho ông Cương và ông Tỏ nhưng ông C phải chịu trách nhiệm khi giữ tài sản của ông. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu ông C trả lại cho ông các tài sản gồm: đồng hồ hiện titoni loại 12 hột xoàn đỏ trị giá 12 chỉ vàng 24k, dây đồng hồ vàng 18k, trọng lượng 10 chỉ; 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k; 1.600 đồng tiền mới đổi. Tổng trị giá tài sản theo thực tế tại thời điểm xét xử 918.874.000 đồng. Các loại giấy tờ sau ông không yêu cầu ông C trả gồm: 01 giấy chuyển sinh hoạt Đảng tên Đỗ N chuyển sinh hoạt từ xã Phước Vĩnh An lên Công an huyện A; 01 giấy phép chở lúa từ H về C; 01 bằng lái xe tải nặng; 01 bằng quân y; 01 bằng y tế Ngụy.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đỗ N- Luật sư Trần Minh

Tuấn trình bày: theo trình bày của ông Đỗ N khi ông bị bắt, ông bị thu giữ tài sản là có thật, nên nay ông yêu cầu ông C trả lại tài sản cho ông là có căn cứ nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông C phải trả Đồng hồ hiện titoni loại 12 hột xoàn đỏ, trị giá 12 chỉ vàng 24k; 01 sợ dây đồng hồ vàng 18k, trọng lượng 10 chỉ; 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k; 1.600 đồng tiền Ngụy, trị giá thực tế tại thời điểm xét xử 918.874.000 đồng, ông Đỗ Nkhông yêu cầu Công an huyện A có trách nhiệm trả lại tài sản cho ông.

Bị đơn ông Trần Trọng C trình bày: ông là Công an công tác tại Công an

huyện A nhưng hiện nay ông đã về hưu. Trước đây ông Đỗ N nói với ông rằng

ông Đỗ N có con cháu làm việc thấy tài sản của ông Đỗ N bị thu giữ hiện nay

Công an huyện A đang giữ nên ngày 28/4/1994 ông Đỗ N làm giấy với nội dung

ông có thu giữ tài sản của ông Đỗ N để ông Đỗ N liên hệ với Công an huyện A

để nhận lại tài sản. Vì vậy ông ký xác nhận để ông Đỗ N đi liên hệ với Công an

huyện A nhận lại tài sản. Nay ông Đỗ Ncăn cứ vào giấy xác nhận trên để khởi

kiện ông là không đúng vì ông không có nhận tài sản của ông N, thực tế khi tiếp

nhận ông Đỗ N từ Công an huyện H ông cũng không có nhận tang vật hay bất cứ

tài sản gì của ông N. Nay ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của

ông N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công an huyện A – Người đại

diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc Vương thể hiện lời trình bày có trong hồ

sơ: Theo hồ sơ của Công an huyện A lưu giữ thì từ lúc tiếp nhận ông Đỗ Ntừ

Công an huyện H và trong xuyên suốt quá trình tạm giữ, chuyển giao ông Đỗ N

cho Công an huyện A không có thu giữ hay tiếp nhận bất cứ tài sản gì của ông N.

Vì vậy Công an huyện A không liên quan gì đến tài sản của ông N.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số số 08/2022/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm

2022, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 Nghị

quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án, đã

tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản của ông Đỗ

Văn N(tên gọi khác: Đỗ Xuân Nghị) đối với ông Trần Trọng C (tên gọi khác:

Trần Trung Cuộc).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo: theo đơn kháng cáo đề ngày 10-01-2022 của

nguyên đơn, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

Ý kiến Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư

ký phiên tòa: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và

quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung,

thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: đều thực

hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

- Về nội dung: đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn Nghị.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ thể hiện: Ngày 16-12-1975, ông

C lãnh ông Đỗ N từ Công an huyện H về giao cho khu giam giữ thuộc Công an huyện A là có thật. Lúc này, ông C là người thực hiện nhiệm vụ do Công an huyện A giao.

[2] Ông Đỗ N trình bày: khi đến cho khu giam giữ Tân Qui, ông C đã bàn

giao ông và tang vật cho ông U là người quản lý khu giam này và tại đây 02 ông này cũng đã nói sẽ giao cho ông biên bản giao nhận tài sản, nhưng sau đó đã không giao biên bản; còn mục đích việc ông C viết tờ xác nhận ngày 28-4-94 cho ông để ông liên hệ Công an huyện A để đòi tài sản. Như vậy, bản thân ông Đỗ N cũng xác nhận ông C không giữ tài sản của ông. Quá trình thu thập chứng cứ, Công an huyện A xác định không có tài liệu nào thể hiện Công an huyện A có giữ tài sản của ông N.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đỗ N xác nhận ông cũng không xác định

được ông C có chiếm giữ tài sản của ông hay không; ông chỉ chứng kiến ông C nhận tài sản của ông từ cán bộ Công an huyện H, chứng kiến việc ông C vào gặp cán bộ khu giam giữ Tân Qui để bàn giao và khi ông C quay trở ra gặp ông, ông cũng không thấy ông C còn đang giữ tài sản của ông. Từ các phân tích nêu trên thấy rằng, không có cơ sở xác định ông C chiếm giữ rái pháp luật tài sản của ông N. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ N là có căn cứ. Ông Đỗ N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh nên kháng cáo của ông không được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: ông Đỗ N là người cao tuổi được miễn án phí

theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; giữ nguyên Bản

án Dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022, của Tòa án nhân dân thị xã Trảng B, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/

UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản của ông

Đỗ Văn N (tên gọi khác: Đỗ Xuân N) đối với ông Trần Trọng C (tên gọi khác: Trần Trung Cuộc).

2. Án phí phúc thẩm: ông Đỗ N được miễn án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ