vanban.org

Bản án 119/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Ngọc Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Dƣơng Ngọc Th 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tuyên giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân phường Hòa Hiệp N, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Ngọc Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2021/HSST
Ngày: 29/12/2021
s

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Chi

Ông Ngô Văn Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Dƣơng Ngọc Th, sinh năm 1977 tại Quảng N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 44 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; con ông Dương Q (s) và bà Nguyễn Thị H (s); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2019).

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Ngƣời bị hại: Ông Hà Văn N, sinh năm 1971; Địa chỉ: 48 Xuân Thiều 8, tổ 13 phường Hòa Hiệp N, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: 44 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

- Cháu Dương Thị Mỹ D, sinh năm 2004. Đại diện hợp pháp của cháu Dung: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: 44 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (Mẹ ruột); Có mặt.

- Ông Lê Đình Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: 48 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

- Ông Lê Đình Quốc D, sinh năm 1987; Địa chỉ: 48 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

- Ông Lê Đình T, sinh năm 1994; Địa chỉ: 48 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

- Bà Lê Thị Bích S, sinh năm 1976; Địa chỉ: 48 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Ngƣời làm chứng:

- Ông Hồ Thanh B, sinh năm 1973; Địa chỉ: 48 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1974; Điạ chỉ: 48 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

- Ông Đỗ Văn Kh, sinh năm 1970; Địa chỉ: 68 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ 13 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h40’ ngày 22/9/2021, Hà Văn N cùng với vợ là Lê Thị Bích S và các em vợ: Lê Đình Quốc D, Lê Đình T, Lê Đình Q; anh Hồ Thanh B và chị Nguyễn Thị Mỹ D1 là vợ của Bình, tổ chức ăn uống tại trước nhà của N tại số 48 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, Dương Ngọc Th đứng trước nhà của mình tại số 44 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng lớn tiếng chửi N về việc trong quá trình xây dựng nhà trước đó đã ảnh hưởng đến hàng xóm, N đi sang nói chuyện với Th thì cả hai xảy ra mâu thuẫn. N dùng tay tát vào mặt Th một cái rồi hai bên dùng tay chân đánh nhau. Thấy N và Th đánh nhau nên D, T, Quang chạy đến hỗ trợ N thì Th thoát ra bỏ chạy xuống bếp lấy 01 con dao dài 29 cm, cán gỗ; 01 con dao dài 40 cm, cán gỗ chạy lên để đánh nhau. Lúc này, N nhặt 01 cây lau nhà cán bằng kim loại dài 1,2 m xông lên đánh một cái từ trên xuống trúng vào vùng mặt của Th gây thương tích. Th dùng dao chém một nhát trúng vào mặt trong sau cẳng tay trái, một nhát sượt qua vùng bụng của N gây thương tích thì N vứt cây lau nhà lại, chạy về nhà lấy 01 cái ghế bằng inox rồi qua nhà Th đánh vào chân Th gây thương tích. Lúc này, D nhặt cây lau nhà mà N vứt lại xông lên đánh Th; T nhặt một cây gỗ tại trước nhà của anh Đỗ Văn Kh xông đến định đánh Th thì bị vợ của Th là chị Nguyễn Thị H ngăn cản và dùng chân đạp T ngã ra sau. T nhặt cây gỗ rồi giơ lên đánh một cái về phía chị Hồng thì phần đuôi của khúc cây gỗ trúng vào đầu của chị Hồng gây thương tích. Lúc này, Quang cũng nhặt một cây gỗ xông vào để đánh nhau thì được chị Lê Thị Bích S và anh Phạm Văn L can ngăn. Trong lúc đánh nhau, thấy vợ mình là chị Hồng bị đánh nên Th cầm dao đuổi chém T nhưng không được nên quay về nhà. Sau đó, T, D vẫn còn bực tức nên đứng ở phía trước nhà Th dùng cây gỗ ném vào nhà Th trúng vào người con của Th là cháu Dương Văn Tài (sinh năm 2019) gây thương tích. Còn cháu Dương Thị Mỹ D (sinh năm 2004 – con của Th) trong lúc can ngăn Th đang cầm dao thì bị thương tích ở tay. Sau đó, Hà Văn N, Nguyễn Thị H, Dương Ngọc T, Dương Thị Mỹ D được đưa đi cấp cứu.

Tại bản Kết luận giám định số 265/TgT ngày 04/12/2020 của Trung T pháp y – Sở y tế TP Đà Nẵng kết luận: anh Hà Văn N bị đụng dập thần kinh trụ, đứt cơ gấp cổ tay trụ, tổn thương phần mềm vùng bụng; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%.

Tại bản Kết luận giám định số 263/TgT ngày 04/12/2020 của Trung T pháp y – Sở y tế TP Đà Nẵng kết luận: anh Dương Ngọc Th bị tổn thương phần mềm; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%. Ngày 14/01/2021, Dương Ngọc Th có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 262/TgT ngày 04/12/2020 của Trung T pháp y – Sở y tế TP Đà Nẵng kết luận: Chị Nguyễn Thị H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%. Ngày 14/01/2021, Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 261/TgT ngày 04/12/2020 của Trung T pháp y – Sở y tế TP Đà Nẵng kết luận: cháu Dương Thị Mỹ D bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

Tại bản Kết luận giám định số 264/TgT ngày 04/12/2020 của Trung T pháp y – Sở y tế TP Đà Nẵng kết luận: cháu Dương Văn Tài bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%.

Sau khi sự việc xảy ra, Lê Đình T đã bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 21/9/2021 Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ban hành quyết định truy nã đối với T và ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 01/CSĐT ngày 24/9/2021 đối với T để tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Ngày 04/01/2021, Dương Ngọc Th có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày 11/6/2021 và 12/8/2021 Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu ra quyết định khởi tố bị can số 80, 136/CSĐT đối với Hà Văn N, Lê Đình Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS. Ngày 01/11/2021, người bị hại Dương Ngọc Th có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với những người đã gây thương tích cho Dương Ngọc Th và con của Th là cháu Dương Văn Tài. Ngày 01/11/2021 bà Nguyễn Thị H cũng có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với những người đã gây thương tích cho cháu Dương Văn Tài. Ngày 01/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu ra quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01, 02/CSĐT đối với Hà Văn N và Lê Đình Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS.

Tang vật tạm giữ:

- 01 con dao dài 29cm, cán gỗ.

- 01 con dao dài 40cm, cán gỗ.

- 01 cây lau nhà cán bằng kim loại dài 1,2m.

- 01 cái ghế inox dạng hình trụ mặt ghế có đường kính 27cm, chân ghế có đường kính 37cm, chiều dài là 50cm.

- 01 ghế bằng kim loại kích thước 62cm x 33cm x 35cm.

- 01 cây gỗ dài 64cm; 01 cây gỗ dài 82cm; 01 cây gỗ dài 70cm; 01 cây gỗ dài 58cm; 01 cây xúc rác dài 60cm, cán gỗ.

Về dân sự: Dương Ngọc Th đã bồi thường chi phí điều cho bị hại Hà Văn N, hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 100/CT-VKS ngày 01/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Dương Ngọc Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Ngọc Th về tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung Cáo trạng truy tố. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Ngọc Th mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 – 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- 01 con dao dài 29cm, cán gỗ.

- 01 con dao dài 40cm, cán gỗ.

- 01 cây lau nhà cán bằng kim loại dài 1,2m.

- 01 cái ghế inox dạng hình trụ mặt ghế có đường kính 27cm, chân ghế có đường kính 37cm, chiều dài là 50cm.

- 01 ghế bằng kim loại kích thước 62cm x 33cm x 35cm.

- 01 cây gỗ dài 64cm; 01 cây gỗ dài 82cm; 01 cây gỗ dài 70cm; 01 cây gỗ dài 58cm; 01 cây xúc rác dài 60cm, cán gỗ.

Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Dương Ngọc Th đã bồi thường chi phí điều cho bị hại Hà Văn N, hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Ngọc Th khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để ở nhà chăm sóc cho gia đình, vợ và các con nhỏ.

Người bị hại Hà Văn N đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo Dương Ngọc Th một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện cải tạo tốt, chăm sóc vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Dương Ngọc Th: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19h40’ ngày 22/9/2021 tại số 44 X, phường H, quận L, TP Đà Nẵng, do có mâu thuẫn từ trước trong quá trình sinh hoạt nên sau khi đi nhậu về, Dương Ngọc Th đã có những lời lẽ xúc phạm, lớn tiếng chửi thề đối với anh Hà Văn N, bực tức vì hành động của Th nên N dùng tay tát vào mặt Th một cái rồi hai bên dùng tay chân đánh nhau. Thấy N và Th xảy ra xô xát nên D, T, Quang chạy đến hỗ trợ N thì Th thoát ra bỏ chạy xuống bếp lấy 02 con dao chạy lên để đánh nhau. Lúc này, thấy Th cầm dao nên N nhặt 01 cây lau nhà cán bằng kim loại xông lên đánh một cái trúng vào vùng mặt của Th gây thương tích, Th dùng dao chém một nhát trúng vào mặt trong sau cẳng tay trái, một nhát sượt qua vùng bụng của Hà Văn N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 12%.

Hành vi trên của bị cáo Dương Ngọc Th đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, hành vi của bị cáo Dương Ngọc Th thì thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo đã có hành vi chửi thề và xúc phạm anh Hà Văn N, sau đó khi hai bên xảy ra xô xát thì bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém 02 nhát vào người anh N, hậu quả anh N bị thương tích 12%. Mặc dù tại phiên tòa bị cáo cho rằng bị cáo không chửi bị hại, hành vi của bị cáo chỉ tự vệ khi gia đình bị hại xông vào nhà và sử dụng cây gỗ đánh bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như lời khai của người bị hại, người liên quan tại phiên tòa hôm nay và lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện bị cáo Th là người có lỗi trước. Khi anh N nghe Th nói to tiếng nhắc đến tên mình thì có đi qua nói “bạn say rồi, về ngủ đi” thì bị cáo đã có những lời lẽ xúc phạm và chửi thề với người bị hại. Vì bực tức nên anh N mới dùng tay tát bị cáo. Giữa bị cáo và anh N chỉ dùng tay không đánh nhau. Khi T và D chạy qua nhà bị cáo thì không mang theo hung khí gì, cây gỗ và cây lau nhà tìm thấy tại hiện trường vụ án là do T và D nhặt được trong nhà của bị cáo khi 02 bên đang xô xát qua lại. Tuy nhiên bản thân T, D chưa dùng hung khí đánh bị cáo thì bị cáo đã chạy xuống bếp lấy 02 cây dao lên nhằm mục đích đánh, gây thương tích cho người bị hại. Thấy bị cáo cầm dao trong tay và có thái độ hung hãn nên anh N mới dùng cây lau nhà cán bằng kim loại đánh vào mặt của bị cáo. Lúc này bị cáo đã dùng dao chém liên tục 02 nhát vào người anh N (01 nhát vào cẳng tay trái, 01 nhát sượt qua vùng bụng). Mặt khác, tại bút lục số 137 bị cáo Th đã khai “khi bị cáo xuống bếp thì nghe N nói “xông vô đánh luôn” nhưng thực tế không thấy ai đuổi theo bị cáo nữa”; tại bút lục số 133 bị cáo Th đã khai “khi bị cáo cầm dao chạy lên thì không có ai tấn công bị cáo”. Như vậy thấy rằng tại thời điểm xảy ra vụ việc, bị cáo hoàn toàn có thể chọn cách giải quyết khác (có thể bỏ chạy, trốn đi hoặc nhờ hàng xóm gọi báo Công an), nhưng bị cáo không làm. Bị cáo có đủ nhận thức được rằng hung khí trong tay mình rất nguy hiểm, có tính sát thương rất cao nhưng vẫn sử dụng (hai tay cầm hai con dao) để chém người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đối với bị cáo phải xử phạt một mức án tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, vụ án này xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đáng kể giữa hàng xóm láng giềng với nhau. Xét động cơ, nguyên nhân phạm tội của bị cáo cũng một phần do lỗi của người bị hại cũng như gia đình bị hại. Anh N là người dùng tay tát vào mặt bị cáo, khi thấy anh rể mình xảy ra xô xát với hàng xóm, 03 người em vợ của anh N là D, Quang và T không những không can ngăn mà còn có hành động xông qua hỗ trợ, cùng với N đánh bị cáo. Người bị hại Hà Văn N đã dùng 01 cây lau nhà cán bằng kim loại đánh một cái vào vùng mặt của Th gây thương tích; Sau khi bị cáo Th dùng dao chém N thì D, T còn có hành động sử dụng hung khí là cây gỗ, cây lau nhà đánh, ném gây thương tích cho con trai và vợ của bị cáo. Xét thấy bị cáo đã thực hiện tội phạm trong trường hợp bị kích động về mặt tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, do đó HĐXX sẽ xem xét một cách khách quan toàn diện để áp dụng cho bị cáo một hình phạt công T, đúng người, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Ngọc Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại cũng có lỗi, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bị hại cũng có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, người bị hại cũng mong muốn HĐXX xem xét cho bị cáo một mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội ở nhà lao động, chăm sóc vợ con; Gia đình của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, 02 con còn nhỏ, bản thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ sức răn đe bị cáo như đề nghị của đại diện VKS tại phiên toà là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Ngọc Th đã bồi thường chi phí điều cho bị hại Hà Văn N, hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 con dao dài 29cm, cán gỗ.

- 01 con dao dài 40cm, cán gỗ.

- 01 cây lau nhà cán bằng kim loại dài 1,2m.

- 01 cái ghế inox dạng hình trụ mặt ghế có đường kính 27cm, chân ghế có đường kính 37cm, chiều dài là 50cm.

- 01 ghế bằng kim loại kích thước 62cm x 33cm x 35cm.

- 01 cây gỗ dài 64cm; 01 cây gỗ dài 82cm ;01 cây gỗ dài 70cm; 01 cây gỗ dài 58cm; 01 cây xúc rác dài 60cm, cán gỗ.

Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2021.

. Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:

Trong vụ án này người bị hại Hà Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình Quốc D và Lê Đình Q hành vi dùng cây gỗ, cây lau nhà, ghế inox đánh, ném gây thương tích cho bị cáo Dương Ngọc Th và con trai của bị cáo là cháu Dương Văn Tài. Ngày 04/01/2021, Dương Ngọc Th có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày 11/6/2021 và 12/8/2021 Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu ra quyết định khởi tố bị can số 80, 136/CSĐT đối với Hà Văn N, Lê Đình Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS. Ngày 01/11/2021, Dương Ngọc Th có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với những người đã gây thương tích cho Dương Ngọc Th và con của Th là cháu Dương Văn Tài. Ngày 01/11/2021 bà Nguyễn Thị H cũng có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với những người đã gây thương tích cho cháu Dương Văn Tài. Ngày 01/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu ra quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01, 02/CSĐT đối với Hà Văn N và Lê Đình Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS. Do đó HĐXX không đề cập giải quyết.

Đối với Lê Đình T sau khi thực hiện phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 21/9/2021 Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ban hành quyết định truy nã và ban hành quyết định tách vụ án hình sự đối với Lê Đình T để tiếp tục điều tra xử lý sau. Hiện tại, T đã có mặt tại địa phương tuy nhiên vì vụ án đối với T đã được tách ra nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Đối với cháu Dương Thị Mỹ D bị thương tích nhẹ, cháu Dung và gia đình không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Dương Ngọc Th phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Ngọc Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Căn cứ: điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Dƣơng Ngọc Th 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân phường Hòa Hiệp N, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự, Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 con dao dài 29cm, cán gỗ.

- 01 con dao dài 40cm, cán gỗ.

- 01 cây lau nhà cán bằng kim loại dài 1,2m.

- 01 cái ghế inox dạng hình trụ mặt ghế có đường kính 27cm, chân ghế có đường kính 37cm, chiều dài là 50cm.

- 01 ghế bằng kim loại kích thước 62cm x 33cm x 35cm.

- 01 cây gỗ dài 64cm; 01 cây gỗ dài 82cm ;01 cây gỗ dài 70cm; 01 cây gỗ dài 58cm; 01 cây xúc rác dài 60cm, cán gỗ.

Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2021.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Dương Ngọc Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ