vanban.org

Bản án 119/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Đình D phạm tội "Cướp giật tài sản";

Xử phạt: Bị cáo Mai Đình D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21 tháng 10 năm 2021. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Đình D phạm tội : Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Đình D phạm tội "Cướp giật tài sản";
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2021/HSST
Ngày: 29 - 11- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hải Dương

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Khắc Thiện

2. Ông Hồ Tuấn Sơn

ơ

- Thư ký Tßa ¸n ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- §¹i diÖn viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Nghi Lộc, tØnh NghÖ An tham gia phiªn tßa: Ông Nguyễn Chí Cường - KiÓm s¸t viªn.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tØnh NghÖ An xét xử sơ thẩm c«ng khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo QuyÕt ®Þnh ®ưa vô ¸n ra xÐt xö sè 151/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Đình D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 8 năm 2002, tại xã Ng K, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 1, xã Ng K, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Mai Đình G và bà Hoàng Thị Nh; Bị cáo có vợ Lèo Thị Th và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 10 năm 2021 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1986; trú tại: Xóm 8, xã Ng L, huyện Ng L,tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người làm chứng: bà Hoàng Thị Nh, sinh năm 1967

Nưi cư trú: Xóm 1, xã Ng K, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Néi dung vô ¸n:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụán và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau;

Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 20 tháng 10 năm 2021, Mai Đình D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 37K1-812.20 (xe mượn của bà Hoàng Thị Nh là mẹ của D) đi từ quán Game Th H ở xóm 5, xã Ng K, huyện Ng L về nhà mình tại xóm 1, xã Ng K, huyện Ng L. Khi đi đến đoạn đường qua nghĩa trang ở xóm 3, xã Ng K thì D gặp chị Hồ Thị L đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ, biển kiểm soát 37M3-0881 đi cùng chiều. Chị L có hỏi D đường đi đến xóm 24, xã Ng V, huyện Ng L thì D nói: “Chị phải đi qua UBND xã Ng V rồi hỏi tiếp”. Sau khi hỏi đường xong, chị Hồ Thị L tiếp tục điều khiển xe đi về phía trước, D điều khiển xe đi chậm lại phía sau. Lúc này, D phát hiện thấy chị Lý có 01 chiếc điện thoại di động bỏ ở túi quần bò phía sau bên trái nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát thấy đây là đoạn đường vắng, không có người qua lại nên D đã tăng tốc độ, từ phía sau nhanh chóng cho xe áp sát vào phía bên trái xe của chị L, dùng tay phải thả tay ga, với sang giật chiếc điện thoại di động của chị L rồi quay đầu xe bỏ chạy theo hướng ngược lại. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh đen của chị L, D đã đưa về nhà cất giấu, đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 20 tháng 10 năm 2021, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nên D đã đến Công an xã Ng K, huyện Ng L để đầu thú và giao nộp lại chiếc điện thoại. Công an xã Ng K đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Lộc để điều tra theo quy định.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 39/KL.ĐG ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự của UBND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh đen, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị cướp giật là 2.400.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).

B¶n cáo trạng số 121/CT-VKS-NL ngày 16 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tØnh NghÖ An đã truy tố bị cáo Mai Đình D về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Đình D và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Mai Đình D từ 24 đến 30 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện ngày 20 tháng 10 năm 2021 như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố và không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại thấy rằng: Chị Hồ Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tung hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Lý.

Về tội danh, khung hình phạt:

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và ý kiến trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất, khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20 tháng 10 năm 2021, tại đoạn đường đi qua khu vực nghĩa trang ở xóm 3, xã Ng K, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An, Mai Đình D đã dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô BKS 37K1-812.20 điều khiển bất ngờ áp sát chị Hồ Thị L là người đang điều khiển xe máy đi cùng chiều rồi dùng tay phải giật 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh đen, trị giá 2.400.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm nghìn) đồng để ở túi quần phía sau bên trái của chị Hồ Thị L. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt chính: Tội phạm thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn thể hiện sự manh động, liều lĩnh.Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo thực hiện với thủ đoạn nguy hiểm đó là sử dụng xe mô tô bất ngờ áp sát người đi đường khi thấy người bị hại sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản, không kịp đề phòng, chủ động bảo vệ tài sản của mình để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, chiếm đoạt bằng được tài sản của bị hại. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo, nâng cao công tác phòng ngừa chung là cần thiết. Buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm báo cho việc thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo bởi bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đồng thời bị cáo đã tự nguyện giao nộp tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt khắc phục hậu quả, sau khi thực hiện hành vi phạm bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên cùng ngày bị cáo đã đến Công an xã Nghi Kiều, huyện Nghi Lộc để đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đủ nghiêm.

Về các vấn đề khác:

- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định" Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 100.000.000 triệu đồng", do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Hồ Thị L đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về vật chứng: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 37K1-812.20 thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Nh. Khi D mượn xe, sau đó sử dụng xe để cướp giật tài sản bà Nh không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Nhường là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo Mai Đình D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mai Đình D phạm tội "Cướp giật tài sản";

Xử phạt: Bị cáo Mai Đình D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21 tháng 10 năm 2021.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mai Đình D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ