- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L ly hôn anh K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2021/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2021 V/v: Ly hôn, nuôi con giữa chị L và anh K |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Nguyễn Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105a/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thùy L, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số nhà 3/16/48 đường T, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số nhà 3/16/48 đường T, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị L có mặt, bị đơn anh K vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 08 tháng 3 năm 2021, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Thùy L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trung K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 21-9-2009 tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thi, thành phố Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống; anh K không chia sẻ với chị trong việc chăm sóc con cái nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Chị đã cùng với các con bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 01-2020. Vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó đến nay. Chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, nên đề nghị giải quyết ly hôn với anh K.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 26-12-2009 và Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 07-5-2014. Hiện tại cả hai con đang ở cùng với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi mỗi con là 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Đinh Thị Thùy L không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trung K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh K vắng mặt. Do đó, anh K không có quan điểm giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 26-3-2021 cháu Nguyễn Minh A có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 15-3-2021, chính quyền địa phương nơi chị L và anh K sinh sống cung cấp: Vợ chồng chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K cư trú tại: Số nhà 3/16/48 đường Tô Hiến Thành, phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không báo tổ dân phố hòa giải. Chị L cùng hai con đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Minh A, sinh năm 2009 và Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh năm 2014.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ vào Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn anh K chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa chị L và anh K.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82, 83, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao các con Nguyễn Minh A, sinh ngày 26-12-2009 và Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 07-5-2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K phải cấp dưỡng nuôi cả hai cháu, mỗi cháu từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 5-2021 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự lập được.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Đinh Thị Thùy L không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị L và anh K phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Trung K đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21-9-2009 tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thi, thành phố Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống của chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K phát sinh mâu thuẫn. Đối với anh K, Tòa án đã triệu tập nhưng anh K không đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh K vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh K không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Tại phiên tòa chị L giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với anh K. Xét mâu thuẫn giữa chị L và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K có hai con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 26-12-2009 và Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 07-5-2014. Cả hai cháu hiện đang ở cùng với chị L. Cháu A có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Anh K không có quan điểm giải quyết về giao nuôi con chung. Tại phiên tòa, chị L giữ quan điểm được nuôi dưỡng cả hai cháu. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và phát triển của các cháu Hội đồng xét xử cần giao cả hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi mỗi con là 3.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy anh K không trực tiếp nuôi con nên phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp; Tuy nhiên mức cấp dưỡng mà chị L yêu cầu là cao so với nhu cầu thiết yếu của con chung vào thời điểm hiện tại nên Hội đồng xét xử có căn cứ để quyết định anh K phải cấp dưỡng nuôi cháu A và cháu L, mỗi cháu là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 5-2021 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự lập được là phù hợp với quy định tại Điều 110 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Đinh Thị Thùy L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là chị Đinh Thị Thùy L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Nguyễn Trung K là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải nộp toàn bộ án phí cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Thùy L và anh Nguyễn Trung K.
2. Về nuôi con: Giao cả hai con chung Nguyễn Minh A, giới tính: Nam, sinh ngày 26-12-2009 và Nguyễn Ngọc Bảo L, giới tính: Nữ, sinh ngày 07-5-2014 cho chị Đinh Thị Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Trung K phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh A là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng và cháu Nguyễn Ngọc Bảo L là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 5 năm 2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được.
Anh Nguyễn Trung K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp tại biên lai thu tiền số 0003569 ngày 09 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
- Án phí cấp dưỡng: Anh Nguyễn Trung K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trung K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - UBND T, TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |