vanban.org

Bản án 119/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Hữu P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/1/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2020/HSST
Ngày: 20/5/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Minh

2. Ông Nguyễn Văn Sơn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận C, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2020/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu P, sinh năm 1977; Nơi sinh: Hà Nội; ĐKHKTT và nơi ở: Số 29 phố H, phường M, quận K, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà: Đỗ Thị H; Vợ là Nguyễn Cẩm T Có 03 con: lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Bản án số 39/2019/HSST ngày 01/3/2019 Tòa án nhân dân quận K xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 21/09/2019; Nhân thân: - Bản án số 439/1997/HSST ngày 11/4/1997 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Bản án số 342/2003/HSST ngày 30/10/2003 Tòa án nhân dân quận K xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội Đánh bạc; DCB số: 134 lập ngày 19/1/2020 tại Công an quận C; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/1/2020. (Có mặt).

Bị hại: Anh Bùi Thanh C, sinh năm 1987; HKTT: Tùng K, Cẩm K, tỉnh T (Vắng mặt).

Anh Nguyễn Bá B, sinh năm 1965; HKTT: Minh P, phường P, thành phố V; tỉnh A. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Tư V, phường L, quận T, Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h 30 phút ngày 12/01/2020, Nguyễn Hữu P đi xe bus từ phố P đến Bệnh viện X Bộ Công an, địa chỉ: Số 09 B, phường M, quận C, Hà Nội với mục đích trộm cắp xe máy. Khi đến Bệnh viện X, P đi bộ vào khu vực bãi gửi xe của công nhân viên Bệnh viện thuộc quyền quản lý của tổ bảo vệ gồm anh Bùi Thanh C và anh Nguyễn Bá B thì nhìn thấy chiếc xe máy hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, BKS: 29Y5: xxx.58 của chị Nguyễn Thị L đang dựng song song sát hàng rào nhà để xe, đuôi xe hướng ra cổng, đầu quay vào trong, xe khóa cổ, yên xe đóng, bên trong cốp có 02 mũ bảo hiểm 01 chiếc màu xanh và 01 chiếc màu đỏ. Khi đang đi đến chiếc xe máy thì P nhìn thấy chị Nguyễn Thị T nên giả vờ hỏi chỗ bán cháo gà. Chị T thấy nghi vấn nên đã đi ra báo cho bảo vệ Bệnh viện là anh Bùi Thanh C anh C đã báo cho anh Nguyễn Bá B cũng là bảo vệ. Sau khi chị T rời khỏi bãi xe, P đi đến đứng cạnh chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, BKS: 29Y5: xx.58, dùng tay phải lấy vam phá khóa từ trong túi áo và chọc vào ổ khóa điện. Phá được ổ khóa điện, P dùng chìa khóa mang theo cắm vào ổ khóa điện và đề nổ máy. P tiếp tục dùng vam phá khóa phá ổ khóa cốp xe máy và lấy chiếc mũ bảo hiểm màu xanh đội lên đầu còn chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ thì treo vào móc giữa xe. Khi dắt xe đi khỏi vị trí ban đầu 03 mét thì anh C và anh B chạy đến và đồng thời gọi anh Phạm Hồng H và anh Từ Quang T là chiến sĩ công an nghĩa vụ đang làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu tại cổng chính Bệnh viện X vào hỗ trợ. P nhìn thấy anh C và anh B chạy đến thì dựng chân chống xe xuống. Anh C và anh B đã giữ P thì P lấy vam phá khóa trong túi áo rồi ném qua ngõ 62 B. Lúc này, anh H và anh T chạy tới tham gia bắt giữ. Anh Trần Văn A là cán bộ Bộ tư lệnh cảnh vệ đi ra ngõ 62 B thu được 01 đầu vam phá khóa xe máy. Sau đó, P cùng tang vật được đưa lên trụ sở công an phường M để làm việc.

Cơ quan điều tra - Công an quận C đã thu giữ tang vật: 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29Y5: xxx.58, SM: 70xxx54; SK: 06xxx3; 01 chùm chìa khóa gồm 05 chìa; 02 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh và màu đỏ; 01 đầu vam phá khóa xe máy bằng kim loại kích thước 08 cm và 01 chiếc điện thoại di động có chữ “Itel” màu đỏ, có lắp sim số: 0969xxx.629 của bị cáo.

Kết luận định giá tài sản số 18/TCKH-BBĐGHĐ ngày 13/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, kết quả: 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, đen, bạc, BKS: 29Y5-xxx.58,SM: HC12E70xxx54, SK: 1257FY06xxx3, trị giá: 13.350.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Lời khai của P phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, đen, bạc, BKS: 29Y5-xxx.58. Tra cứu tại phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Trọng H. Chị L khai: Chị mua chiếc xe máy tháng 01/2016 với giá 16.000.000 đồng và đứng tên đăng ký chồng mình là anh Nguyễn Trọng H. Cơ quan điều tra - Công an quận C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe máy và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, 01 mũ bảo hiểm màu xanh cho chị L. Chị L và Tổ bảo vệ không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Đối với chiếc điện thoại di động Itel màu đỏ có lắp sim số: 0969.223.629 là tài sản của P không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSCG ngày 23/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố Nguyễn Hữu P về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo thực sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì.

Về đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận C giữ nguyên quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38; điều 47 BLHS; xử phạt Nguyễn Hữu P từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên không xét.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 chùm chìa khóa có 05 chìa; 01 đầu vam phá khóa bằng kim loại kích thước 08 cm.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Itel màu đỏ, có lắp sim số 09xxxx629.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, C cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Khoảng 17h00 phút ngày 12/01/2020, Nguyễn Hữu P đã có hành vi trộm cắp một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, BKS: 29Y5: xxx.58 của chị Nguyễn Thị L, trị giá: 13.350.000 đồng tại bãi gửi xe Bệnh viện X Bộ Công an, địa chỉ: Số 09, phường M, quận C, Hà Nội.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, bị hại, người liên quan, vật chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu P đã đủ cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do đó Viện Kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng khu vực bãi gửi xe trong bệnh viện là nơi có nhiều người qua lại, không ai để ý đến ai. Bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy với giá trị tài sản là 13.350.000 đồng, mục đích bán lấy tiền ăn tiêu. Bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án là bản án số 39/2019/HSST ngày 01/3/2019 Tòa án nhân dân quận K xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 21/09/2019, chưa được xóa án tích. Do đó phạm tội lần này là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.

- Giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng:

- Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 chùm chìa khóa có 05 chìa; 01 đầu vam phá khóa bằng kim loại kích thước 08 cm.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Itel màu đỏ, có lắp sim số 09xxxx629 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên !

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Hữu P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/1/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; mục A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 chùm chìa khóa có 05 chìa; 01 đầu vam phá khóa bằng kim loại kích thước 08 cm.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Itel màu đỏ, có lắp sim số 096xxxx629 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 160/GN/THA-CA ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận C).

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyền án.

- Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ