vanban.org

Bản án 119/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 21/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Ngô Việt Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2020/HS-ST
Ngày 21 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ -TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Xuân Phi

2. Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 ngày 9 tháng 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2020/TLST-HS ngày 03/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Việt Q, tên gọi khác: không. Sinh ngày: 28/9/1995; tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ 1x phường P, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Việt L (s) và bà Trần Thị Ngọc H (s); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 19/11/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở xã hội Bầu Bàng. Chấp hành xong vào ngày 25/10/2019.

- Nhân thân:

+ Ngày 12/8/2013, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 59 tháng 18 ngày về tội "Cướp tài sản" theo bản án số 52/2013/HSST.

+ Ngày 23/3/2017, bị Công án phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "sử dụng trái phép chất ma túy", hình thức phạt tiền.

+ Ngày 25/5/2017, bị Uỷ ban nhân dân phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng.

Bị cáo bị hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Ngô Việt L và bà Trần Thị Ngọc H; Cùng trú tại: Tổ 1x phường P, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (ông L, bà H là cha mẹ của bị cáo Q). Vắng mặt

Ông Trần Thanh V; trú tại: x đường C, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (ông V là cậu ruột của bị cáo Q) . Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn L - Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Hai Thành viên Bình Minh - Đoàn luật sư TP Đà Nẵng. Có mặt

- Bị hại: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 2002; trú tại: Tổ x phường N, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972; trú tại: Số x đường Ô, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 04/2/2020, Ngô Việt Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 43C1-5xx.xx đi ngang qua quán Trà chanh Chill tại địa chỉ số 411 đường Hải Phòng, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 41C1-934.36 của anh Nguyễn Đức H đang để phía trước quan không có người trông coi, trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên Q nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Q điều khiển xe 42C1-5xx.xx đến ga Đà Nẵng để gửi xe rồi đi bộ lại quán Trà chanh Chill lén lút dắt trộm chiếc xe 41C1-9xx.xx lùi xuống lòng đường rồi ngồi lên xe bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe tẩu thoát. Sau đó, Q đem xe vừa trộm cắp được đến tiệm cầm đồ Kim Anh (địa chỉ: số xx đường Trần Cao V, thành phố Đà Nẵng) do anh Chu Vũ Quang T làm chủ để hỏi bán nhưng không thương lượng được giá bán. Q đổi ý không bán xe nữa mà đem xe về cất giấu sau số nhà x đường H, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để khi nào cần thì đến lấy sử dụng.

Đến 12 giờ 40 phút cùng ngày, anh H phát hiện bị mất xe và yêu cầu chủ quán Trà chanh Chill trích xuất camera thì phát hiện có 01 nam thanh niên mặc áo đen, quần lửng caro, đeo khẩu trang, đầu đội mũ bảo hiểm màu đỏ đã lấy trộm xe của anh H. Sau đó, anh Hảo đến Công an phường Tân Chính trình báo. Công an phường Tân Chính tiến hành triệu tập Q đến trụ sở làm việc, tại đây Q khai nhận hành vi trộm cắp xe 41C1-934.36.

Cùng ngày, Công an phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiện Honda Vario màu xanh đen biển số 43C1-9xx.xx không xác định được chủ sở hữu nên tiến hành tạm giữ và sau đó bàn giao cho Công an phường Tân Chính để xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận định gái tài sản ngày 12/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định: 01 xe Honda Vario màu xanh đen biển số 43C1-9xx.xx giá trị 43.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, Ngô Việt Q có biểu hiện bệnh lý rối loạn tâm thần do sử dụng nhiều loại ma túy. Ngày 28/3/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trưng cầu Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực miền trung giám định tình trạng tâm thần của Ngô Việt Q. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 349/KLGĐ ngày 18/5/2020 xác định: Trước thời điểm gây án, tại thời điềm gây án và thời điểm hiện tại Ngô Việt Q đều bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

* Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 43C1-595.34 do chị Trần Thị Ngọc H là mẹ ruột của Ngô Việt Q tự nguyện giao nộp. Chiếc xe trên do Ngô Việt Q đứng tên chủ sở hữu, Q không sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội nên ngày 07/2/2020 Cơ quan CSĐT, Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho Q.

- 01 xe Honda Vario màu xanh đen biển số 43C1-9xx.xx do Công an phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tiến hành tạm giữ, sau đó bàn giao cho Công an phường Tân Chính để xử lý. Quá trình xác minh: Chiếc xe này do bà Đỗ Thị H là mẹ ruột của anh Nguyễn Đức H đứng tên chủ sở hữu, ngày 04/2/2020 bà H có giao xe cho anh H sử dụng thì bị mất trộm. Ngày 07/2/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại chiếc xe trên cho bà H.

- 01 đĩa CD sao lưu 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Q lấy trộm chiếc xe Honda Vario màu xanh đen biển số 43C1-9xx.xx của anh H, được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Ngô Việt Q cùng gia đình đã tự nguyện sửa chữa những phần hư hỏng của xe trộm cắp. Bà Đỗ Thị H đã nhận lại chiếc xe bị trộm cắp,không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, Ngô Việt Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như đã nêu trên.

Nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Ngô Việt Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài.

* Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 31/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Ngô Việt Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô Việt Q về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Việt Q.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, q khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Việt Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ngô Việt Q từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Tại phiên tòa bị cáo Ngô Việt Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng;

- Đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất với cáo trạng đã truy tố bị cáo Ngô Việt Q, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh của gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh điều luật áp dụng của đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm i (phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chữa bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ngô Việt Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 04/2/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 43C1-5xx.xx đi ngang qua quán Trà chanh Chill tại địa chỉ số 411 đường Hải Phòng, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 43C1-9xx.xx của anh Nguyễn Đức H đang để phía trước quán không có người trông coi, trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên bị cáo đã lén lút dắt trộm chiếc xe 43C1-9xx.xx lùi xuống lòng đường rồi ngồi lên xe bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe tẩu thoát. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 43.200.000 đồng.

Như vậy lời khai thừa nhận của bị cáo Ngô Việt Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Việt Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo Ngô Việt Q đã cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 43.200.000 đồng, hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 19/11/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở xã hội Bầu Bàng. Ngoài ra vào năm 2013, bị cáo Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 59 tháng 18 ngày về tội "Cướp tài sản" theo bản án số 52/2013/HSST ngày 12/8/2013.

Vì vậy cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội cũng là bài học giáo dục răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 349/KLGĐ ngày 18/5/2020 của Trung tâm pháp ý tâm thần khu vực miền trung đã kết luận: Trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án và thời điểm hiện tại Ngô Việt Q đều bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; rối loạn cảm xúc di chứng do sử dụng nhiều loại ma túy, nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về dân sự: Anh Nguyễn Đức H không yêu cầu đền bù gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Việt Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí HSST: Buộc bị cáo Ngô Việt Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ