- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2020/HS-ST Ngày 17/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2020/TLST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2020/QĐXXST-HS ngày 02/11/2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN X, sinh năm: 1981, tại An Giang.
Nơi cư trú: Kiến Hưng 2, Kiến Thành, Chợ Mới, tỉnh Anh Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Bé, sinh năm: 1950 và bà Từ Thị Tưng (chết).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giữ ngày 27/5/2020 đến ngày 05/6/2020 được trả tự do. Ngày 12/8/2020 bị tạm giam đến nay.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Lê Thị Xuân H, sinh năm 1962. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Khu phố 3, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng:
1. Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu phố 1, phường Mỹ Bình, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
2. Ông Lê Thành A, sinh năm: 1993. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu phố 7, thị trấn Tân Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
3. Ông Lê Văn T, sinh năm: 1981. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu phố 6, phường Kinh Dinh, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 27/5/2020, Nguyễn Văn X đến tiệm vàng Cường Hương, thuộc khu phố 5, phường Kinh Dinh, TP Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, do chị Lê Thị Xuân H làm chủ, để bán 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng, 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng. Lúc này, chị Trần Thị Ngọc T là nhân viên của tiệm vàng thực hiện việc giao dịch mua bán. Sau khi cân xác định số trang sức trên có tổng trọng lượng là 10,026 chỉ và báo giá mua vào là 2.600.000 đồng/1chỉ vàng 18k. X đồng ý bán với tổng số tiền là 26.676.000 đồng. Tuy nhiên do chưa có đủ tiền nên chị T nói X đợi để chủ tiệm vàng quay lại đưa tiền. Trong lúc chờ chủ tiệm, chị T kiểm tra lại số vàng, nghi ngờ là vàng giả nên đã trình báo sự việc cho cơ quan Công an đến mời X về trụ sở làm việc. Đồng thời tạm giữ số trang sức mà X mang đến bán. Tại Cơ quan điều tra, X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra Xe khai nhận: Sau khi thỏa thuận cùng với một người tên đen (chưa rõ nhân thân, lai lịch), mang số vàng giả của Đen đến địa bàn TP. Phan Rang- Tháp Chàm bán, nếu bán được thì Đen sẽ cho X 1.000.000 đồng. Ngày 27/5/2020, Đen điều khiển xe mô tô chở X đến TP. Phan Rang- Tháp Chàm, sau đó X mang toàn bộ số vàng của Đen vào tiệm vàng Cường Hương, bán cho chị Trần Thị Ngọc T với số tiền 26.676.000đồng thì bị bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số: 2884 ngày 05/6/2020 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an (C09B) kết luận:
+ 01 sợ dây chuyền kim loại màu vàng được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là đồng (Cu), Bạc (Ag) và Vàng (Au); khối lượng: 17,340 gam. Hàm lượng Vàng (Au): 38,38 %.
+ 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính nhiều hạt đá được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Đồng (Cu), Bạc (Ag) và Vàng (Au); khối lượng (cả hạt đá): 9,0405 gam. Hàm lượng vàng (Au): 32,14 %.
+ 01 lắc tay kim loại màu nâu đen được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Đồng (Cu), Bạc (Ag) và Vàng (Au); khối lượng: 12,8674 gam. Hàm lượng vàng (Au): 26,17 %.
Cáo trạng số 114/CT- VKSPRTC ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 174; Điều 15; Khoản 3 Điều 57; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xăn X từ 09 đến 12 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn X đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ, ngày 27/5/2020, Nguyễn Văn X đã mang một số đồ trang sức, màu vàng có thành phần kim loại chủ yếu là đồng (Cu) và bạc (Ag) đến tiệm vàng Cường Hương để bán. Sau khi gặp nhân viên tiệm vàng là chị Trần Thị Ngọc T, X nói dối là vàng 7 tuổi (18K), tin là vàng thật, nên chị T mua toàn bộ đồ trang sức của X với giá 26.676.000 đồng. Trong lúc chờ lấy tiền bán vàng thì chị T phát hiện là vàng giả nên trình báo Công an đến bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức về hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội. Nhưng để có tiền nhanh chóng tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu:
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn X, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số tiền 250.000 đồng cho Nguyễn Văn X là có căn cứ.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt đá, khối lượng (cả hạt đá) 9,0405gam, có hàm lượng vàng 32,14%.
+ 01 lắc tay bằng kim loại màu nâu đen, khối lượng 12,8674 gam, có hàm lượng vàng 26,17%.
+ 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng 17,340 gam, có hàm lượng vàng 38,38%.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông tên “Đen” ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn X 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/8/2020, nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ: từ ngày 27/5/2020 đến ngày 05/6/2020.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt đá, khối lượng (cả hạt đá) 9,0405gam, có hàm lượng vàng 32,14%; 01 lắc tay bằng kim loại màu nâu đen, khối lượng 12,8674 gam, có hàm lượng vàng 26,17%; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng 17,340 gam, có hàm lượng vàng 38,38% theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt người bị hại; quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Thi hành án phạt tù; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Văn Bình Nguyễn Thị Minh Trâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Hải THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Hải |