- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T yêu cầu ly hôn Lê Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật hôn nhân – gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 119/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2020 V/v tranh chấp HNGĐ xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Trí Thiện
2. Ông Nguyễn Văn Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm Nhân là thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài là Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2020/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020, về: “Tranh chấp hôn nhân- gia đình, xin ly hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1986.
Cư trú tổ 11, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1988.
Cư trú ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
Các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn (bút lục số 05) và biên bản lấy lời khai (bút lục số 11) thì Chị Lê Thị T khai:
- Chị với anh H thành vợ, chồng vào năm 2016, có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016, ngày 29/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T cấp; Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp thường xuyên cự cải, anh H uống rượu say, không lo cho cuộc sống gia đình, chị khuyên cang nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục, sống không hạnh phúc và ly thân từ tháng 8 năm 2019 đến nay.
- Con chung có 01 đứa tên Lê Tấn P, sinh ngày 30/10/2016 đang sống với chị.
- Về tài sản; nợ phải thu và trả: Không có.
Theo biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân (bút lục số 10) thì Anh Lê Văn H khai:
- Anh với chị T thành vợ, chồng vào năm 2016, có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016, ngày 29/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T cấp; Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do anh thường xuyên uống rượu và cự cải với chị T, sống không hạnh phúc, tính tình không phù hợp, không lo cho cuộc sống gia đình và ly thân từ tháng 8 năm 2019 đến nay.
- Con chung có 01 đứa tên Lê Tấn P, sinh ngày 30/10/2016 đang sống với chị T.
- Về tài sản; nợ phải thu và trả: Không có.
Chị T yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh H.
- Về con chung: Được tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
- Về tài sản: nợ phải thu và phải trả: Không có, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh H yêu cầu:
- Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Đồng ý cho chị T tiếp tục nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: nợ phải thu và phải trả: Không có, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về hình thức, thủ tục tố tụng:
Anh H và chị T có đơn yêu cầu vắng mặt về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy đã lập các biên bản không tiến hành được phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (bút lục các số 8, 9).
[1.2] Chị T và anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh, chị (bút lục các số 8, 9).
Về nội dung:
Hôn nhân giữa chị T với anh H có đăng ký kết hôn vào năm 2016 ( bút lục số 01), đây là hôn nhân hợp pháp được luật pháp bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xảy ra.
- Về nguyên nhân ly thân: chị T cho rằng do tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc và anh H uống rượu say, không lo cho cuộc sống gia đình, vì vậy chị xin ly hôn. Anh H đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy, nếu hòa giải được thì đã lập biên bản và ban hành quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn, nhưng do anh chị đều yêu cầu vắng mặt, đều đó cho thấy hạnh phúc của gia đình anh, chị thật sự không còn, vì vậy chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Theo khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân- gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị T và anh H thống nhất có 01 con tên Lê Tấn P, sinh ngày 30/10/2016, đang sống với chị T, anh H đồng ý cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, hơn nữa cháu P dưới 36 tháng tuổi theo quy định khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân - gia đình giao cho mẹ nuôi dưỡng, do đó tiếp tục giao cho chị T nuôi dưỡng. Đáng lẽ anh H phải cấp dưỡng nuôi con theo luật định nhưng chị T không yêu cầu, vì vậy HĐXX không xem xét.
Về quan hệ tài sản; quan hệ nợ phải thu: Anh, chị thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết (bút lục 10 và 11), vì vậy HĐXX không xem xét.
Về nợ phải trả: anh, chị thống nhất khai không có (Bút lục 10 và 11), vì vậy HĐXX ghi nhận, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí về việc xin ly hôn theo quy đinh tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 300.000đ.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ pháp luật đề nghị HĐXX xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Khoản 3 Điều 81; các khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân – gia đình;
- Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228; các điều 271, 273, 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chị Lê Thị T được ly hôn với Anh Lê Văn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016, ngày 29/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T cấp, không còn giá trị pháp lý.
- Chị Lê Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đứa con tên Lê Tấn P, sinh ngày 30/10/2016, không ai được ngăn cảng mà phải tạo điều kiện thuận lợi khi anh H đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Công nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên không cố định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng chẵn), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng chẵn), theo biên lai thu số 0006543, ngày 26/02/2020 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
Chị T và anh H có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; - Ủy ban nhân dân xã L; - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Dũng |