- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn H và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số:119/2019/HSST Ngày 29 -10- 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân, ông Vì Văn Đôi.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2019/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 109a/2019/HSST-QĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vì Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/01/1991. Nơi sinh: Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản NS, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh mun; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Vì Văn G; con bà Lò Thị K, vợ là Lò Thị L có 04, con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
H bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cƣ trú từ 20/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vì Văn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1994. Nơi sinh: Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản NS, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh mun; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Vì Văn Đ (đã chết); con bà Vì Thị N, vợ con chƣa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
H bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cƣ trú từ 20/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Vì Văn N (tên gọi khác: Vì Văn Hùng), sinh ngày 01/01/1998. Nơi sinh: Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản NS, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Xinh mun; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Vì Văn D (đã chết); con bà Vì Thị U (L), vợ con chƣa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
H bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cƣ trú từ 20/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Lƣờng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/7/1991. Nơi sinh: Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản CB, xã MC, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh mun; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lƣờng Văn A; con bà Vì Thị V, vợ là Vì Thị L1 có 02 con, con lớn sinh năm 2009; con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
H bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cƣ trú từ 20/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo Lƣờng Văn T, Vì Văn N: Ông Nguyễn Bá Linh, Luật sƣ công tác viên Trợ giúp viên pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Sơn La, có mặt.
*Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn M, Vì Văn H: Ông Lƣờng Duy Tuyên – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Sơn La, có mặt.
* Bị hại: Công ty cổ phần Thủy điện Pá Chiến, địa chỉ: Số 186 Nguyễn Lƣơng Bằng, phƣờng Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Ngƣời đại diện theo pháp luật ông Lê Hải L – Giám đốc – Kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị - Ngƣời đƣợc ủy quyền là ông Trần Văn C, sinh năm 1968. Địa chỉ: Bản H, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Các bị cáo không có việc làm ổn định để có tiền tiêu sài các bị cáo đã thực H vụ trộm cắp nhƣ sau:
Khoảng 19 giờ ngày 09/5/2019 trong lúc ngồi ăn cơm uống rƣợu tại nhà Vì Văn H, H rủ Lƣờng Văn T, Vì Văn M và Vì Văn N đi tìm nhặt sắt vụn ở công trƣờng đang thi công thủy điện Mƣờng Hung bán, đƣợc cả bọn đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/5/2019 cả bốn bị cáo vào khu vực công trƣờng thủy điện Mƣờng Hung, thuộc quản lý của Công ty cổ phần thủy điện Pá Chiến. Cả 04 ngƣời chia nhau tìm sắt, N phát H một chồng sắt có đặc điểm giống nhau, một đầu tròn có lỗ, một đầu vuông dài khoảng 40cm (là những chiếc búa của máy nghiền đá) đƣợc che bằng một tấm ván. N gọi mọi ngƣời để cùng xem thống nhất lấy 15 thanh sắt mang về nhà H vì sợ ngƣời phát H các bị cáo dùng cuốc, xẻng đào ba hố bê các thanh sắt trộm đƣợc vào trong để chôn lại, rồi dùng các lốp ô tô che lên trên, sau khi chôn giấu xong số sắt thì tất cả về nhà nghỉ.
Ngày 23/5/2019 Vì Văn H đem ba thanh sắt trộm đƣợc bán cho chị Lê Thị N là ngƣời chuyên mua sắt vụn, lấy 431.000 đồng thì bị phát H. Thu giữ vật chứng trả lại cho bị hại (Công ty cổ phần thủy điện Pá Chiến)
Tại Kết luận định giá tài sản số 47 ngày 03/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã, kết luận: “14 (mười bốn) thanh kim loại búa của máy nghiền đá công nghiệp có đặc điểm giống nhau, dài trung bình 46cm, một đầu búa có lỗ tròn đường kính trung bình là 06cm, búa còn mới chưa qua sử dụng, tổng khối lượng là 345,5kg giá trị: 15.547.500 đồng. 01 (một) thanh kim loại dạng búa của máy nghiền đá công nghiệp, dài 35cm, một đầu có lỗ tròn có đường kính 06cm, đã qua sử dụng, có khối lượng là 16kg, giá trị: 96.000 đồng. Tổng giá trị: 15.643.500 đồng. Bằng chữ: Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm đồng chẵn”
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần Thủy điện Pá Chiến đã nhận lại 15 chiếc búa nghiền đá và các bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thƣờng xong số tiền 20.000.000 đồng. Nay không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm.
Do hành vi nêu trên bản cáo trạng số 104/CT-VKSSM ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 58; 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn H từ 08 đến 14 tháng tù cho hƣởng an treo thử thách từ 16 – 28 tháng. Các bị cáo Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T từ 06 đến 12 tháng tù cho hƣởng an treo, thử thách từ 12 đến 24 tháng.
- Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Miễn nộp án phí hình sự sở thẩm cho các bị cáo theo quy định.
Tại phần tranh luận:
- Quan điểm của Luật sƣ Nguyễn Bá Linh bào chữa cho bị cáo Vì Văn N và Lƣờng Văn T. Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã truy tố. Các bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, sau khi sự việc xảy ra gia đình đã tự thỏa thuận bồi thƣờng cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mở lƣợng khoan hồng xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất và miễn án phí và hình phạt bổ sung đối với các bị cáo N và T.
- Quan điểm của trợ giúp viên pháp lý Lƣờng Duy Tuyên bào chữa cho bị cáo Vì Văn H và Vì Văn M: Nhất trí với tội danh, điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Các bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nhận thức hạn chế( không đƣợc học hành), phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, sau khi sự việc xảy ra gia đình đã tự thỏa thuận bồi thƣờng cho bị hại bị và đƣợc bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, xử phạt các bị cáo H, M mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.
Các bị cáo nhất trí với quan điểm của ngƣời bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực H đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực H đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ nhƣ sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra đúng nhƣ cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo của bị hại vào sáng 10/5/2019 tại công trƣờng thủy điện Mƣờng Hung bị mất 15 búa đập đá của máy nghiền đá và biên bản tạm giữ đồ vật lập ngày 23/5/2019 và ngày 24/5/2019 tại bản NS, xã CK, huyện Sông Mã cùng lời khai của bị hại thể H để những chiếc búa đập đá tại công trƣờng thì các bị cáo lén lút lấy trộm, kết luận định giá tài sản số 47/KL ngày 03/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản của UBND huyện Sông Mã và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T đã thành niên có đủ sức khỏe làm việc tạo thu nhập cho bản thân nhƣng do lƣời lao động lợi dụng sự sơ hở của bị hại, ngày 10/5/2019 các bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 15 búa đập đá của máy nghiền đá của Công ty cổ phần Thủy điện Pá Chiến đang thi công tại công trƣờng thủy điện Mƣờng Hung, huyện Sông Mã trị giá 15.643.000 thì bị phát H: Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thực H: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phƣơng làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khả năng nhận thức biết đƣợc việc lén lút lấy trộm tài sản của ngƣời khác đang trực tiếp quản lý đi bán lấy tiền tiêu sài là vi phạm pháp luật nhƣng vì bản tính tham lam, lƣời lao động muốn hƣởng lợi trên thành quả của ngƣời khác nên các bị cáo cố thực H chứng tỏ các bị cáo coi thƣờng pháp luật. Vì vậy, cần xử lý thật nghiêm khắc đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tác động đến gia đình thỏa thuận bồi thƣờng và đƣợc bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự.
Xét về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo HĐXX xét thấy: Các bị cáo thực H tội phạm thuộc trƣờng hợp là ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; các bị cáo đều là dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế và có nhân thân tốt; đều có nơi cƣ trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần giao cho gia đình phối hợp với chính quyền địa phƣơng giáo dục, cải tạo các bị cáo cũng có thể trở thành ngƣời có ích cho gia đình và xã hội, việc cho các bị cáo hƣởng án treo cải tạo tại địa phƣơng không gây nguy hiểm cho xã hội không ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội đồng thời thể H sự khoan hồng của pháp luật cũng phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐPT ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo Vì Văn H là ngƣời rủ rê khởi sƣớng nên giữ vai trò chính trong vụ án, các bị cáo Vì Văn N, Vì Văn M và Lƣờng Văn T cùng tham gia việc trộm cắp nên giữ vai trò ngang nhau trong đồng phạm.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Ngoài hình phạt chính ra lẽ ra các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc dân tộc thiểu số, cƣ trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không có tài sản riêng và gia đình thuộc hộ nghèo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát , không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối vớ i các bi ̣ cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã đƣợc thu hồi trả lại cho bị hại, các bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thƣờng tiền công truy tìm xong số tiền 20.000.000 đồng, Nay không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên HĐXX cần ghi nhận.
Về vật chứng và một số vấn đề liên quan:
- Đối với số tiền 431.000 đồng là tiền do bị cáo H bán 03 búa đập đá, xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu nộp N sách Nhà nƣớc.
- Đối với chị Lê Thị Nguyên (ngƣời thu mua phê liệu) đã mua 03 chiếc búa đập đá từ Vì Văn H, xét thấy chị Nguyên không biết đây là tài sản H cùng đồng phạm thực H hành vi phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị Nguyên là có căn cứ.
Về án phí: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc dân tộc thiểu số, cƣ trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn gia đình thuộc hộ nghèo và tại phiên tòa các bị cáo đề nghị HĐXX xin đƣợc miễn án phí nên cần miễn án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Xử phạt:
+ Bị cáo Vì Văn H 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 18 (mƣời tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2019).
+ Bị cáo Vì Văn M 06 (sáu) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 12 (mƣời hai) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2019).
+ Bị cáo Vì Văn N 06 (sáu) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 12 (mƣời hai) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2019).
+ Bị cáo Lƣờng Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 12 (mƣời hai) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2019).
Giao các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N cho UBND xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lƣờng Văn T cho UBND xã MC, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tiếp tục cấm các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn N, Vì Văn M và Lƣờng Văn T đi khỏi nơi cƣ trú đến khi nhận đƣợc bản án và quyết định thi hành án.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
“Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực H theo khoản 1 Điều 69 luật thi hành án hình sự”
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự:
Nghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thƣờng xong công truy tìm số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) giữa gia đình các bị cáo và bị hại, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm.
4. Vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu nộp N sách Nhà nƣớc số tiền 431.000 đồng (bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 03/9/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Vì Văn H, Vì Văn M, Vì Văn N và Lƣờng Văn T.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS; - STP tỉnh; - Bị cáo; bị hại; - Chánh án; - Lƣu hồ sơ; -Lƣu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên toà Đèo Văn Quỳnh |