- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H - Vũ Hưu T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Vũ Hữu T.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:119/2019/HNGĐ-ST Ngày: 14/10/2019 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trƣờng
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Ông Nguyễn Văn Khóa
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 189/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/7/ 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung’’. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110A/2019/QĐXX - ST ngày 26/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2019/QĐ-ST ngày 23/9/2019 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh ngày 08/12/1993.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 6, thôn D, xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang lao động tại Đài Loan. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Hữu T, sinh ngày 26/3/1989
Địa chỉ: Xóm 6, thôn D, xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang lao động tại Đài Loan. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Bà Trƣơng Thị M, sinh năm 1951;
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện M, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Hữu T tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương vào ngày 23/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuối năm 2016 anh T đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng ít liên lạc dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Năm 2018 do kinh tế khó khăn nên chị đã gửi con cho bà ngoại để sang Đài Loan lao động nhưng hai vợ chồng không sống cùng, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Vũ Thanh Tr, sinh ngày 06/6/2016, hiện cháu đang ở cùng bà Trương Thị M là mẹ chị tại thôn S, xã T, huyện M, tỉnh Hải Dương. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, do điều kiện chưa hết hợp đồng lao động tại Đài Loan, nên chị ủy quyền cho mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dạy cháu Tr
Về tài sản, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T đang lao động tại Đài Loan nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã về xác minh tại gia đình anh T, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ hiện tại của anh T. Theo bà Ngô Thị Y - Mẹ đẻ của anh T cho biết, anh T hiện đang lao động tại Đài Loan và vẫn thường xuyên gọi điện về gia đình, tuy nhiên do anh T không cho biết địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp cho Tòa án. Tòa án cũng đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho bà Ý, đồng thời tiến hành niêm yết các băn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà Y xác định đã thông tin cho anh T biết, anh T có quan điểm đồng ý ly hôn với chị H, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Về con chung anh T có quan điểm, đồng ý để cho gia đình chị H nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung hai bên không có.
Sau khi nộp đơn ly hôn, chị H quay lại Đài Loan làm việc, chị H đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bà Trương Thị M nuôi cháu Vũ Thanh Tr và nhận các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, bà M có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị H. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án bà đã thông báo cho chị H biết, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn cơ bản đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu và thời gian chuẩn bị xét xử chưa thực hiện đúng theo điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn tiếp tục cung cấp địa chỉ của bị đơn, đến hết thời hạn xét xử mới giải quyết vụ án, do vậy đại diện Viện kiểm sát không phát biểu đường lối giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo công văn trả lời Cục xuất nhập cảnh số 12813/QLXNC-P5 ngày 05/8/2019 thể hiện, chị Phạm Thị H xuất cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 28/06/2019; Anh Vũ Hữu T xuất cảnh ngày 12/4/2017, cả hai đều xuất cảnh qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
.Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết chị H, anh T có quan điểm xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt anh chị H, anh T.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Hữu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2015 tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương, do vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T đi nước ngoài, vợ chồng ít liên lạc, không có điều kiện quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm nhạt dần. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn. Anh T cũng có quan điểm đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
- Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Hữu T có 01 con chung là Vũ Thanh Tr, sinh ngày 06/6/2016, hiện cháu đang ở với bà Trương Thị M là mẹ đẻ chị H. Khi ly hôn chị H có quan điểm xin được nuôi con và ủy quyền cho bà M nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Xét thực tế chị H, anh T không ở Việt Nam, hiện cháu Tr hiện đang sinh sống cùng ông bà ngoại và học tập tại xã T, huyện M, tỉnh Hải Dương, cháu vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường. Bà M đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tr thay chị H trong thời gian chị H không ở Việt Nam. Do vậy để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu, cần tiếp tục giao cháu Tr cho chị H nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, giao cháu Tr cho bà Trương Thị M thay chị H chăm sóc nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Vũ Hữu T.
2.Về con chung: Giao con chung Vũ Thanh Tr, sinh ngày 06/6/2016 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được ngăn cản quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0008234 ngày 10/7/2019 tại chi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã N; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Nguyễn Xuân Trƣờng |