vanban.org

Bản án 119/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhâ ̣n toàn bộ phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thị Ngọc Th đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.

Buộc ông ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Th số tiền vốn lãi là 335.607.000đ (Ba trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ bảy ngàn đồng). 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới phải chịu án phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhâ ̣n toàn bộ phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thị Ngọc Th đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2018/DS-ST
Ngày: 30-7-2018
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Trần Minh Triển

2. Bà Mai Hồng Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em–Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2018/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- N đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 11, ấp B 1, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Bà Lâm Thị Tố N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 09, ấp P 2, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 18/12/2017 và trong quá trình tố tụng N đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th tham gia tố tụng trình bày:

Giữa bà với vợ chồng ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N xác lập hợp đồng vay tiền với nhau cụ thể: Tổng số tiền vay là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Khi vay tiền ông T, bà N có viết cho bà 02 biên nhận nợ cùng ngày 28/9/2017; Biên nhận nợ không thể hiện, nhưng có thỏa thuận miệng với nhau. Đến thời hạn hai bên thỏa thuận, ông T, bà N không thực hiện đúng nội dung theo giấy nhận nợ, bà nhiều lần yêu cầu ông T, bà N thực hiện nghĩa vụ trả vốn lãi cho bà nhưng ông T, bà N không trả nợ. Nay bà yêu cầu vợ chồng ông T, bà N có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền vốn là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng), bà yêu cầu Tòa án tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày vay tiền 28/9/2017 đến ngày Tòa án xét xử.

Bị đơn ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng, nhưng ông bà không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

- N đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/7/2018. Đồng thời, có thay đổi thời gian tính lãi suất cụ thể: Yêu cầu thời gian tính lãi suất từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ là ngày 14/10/2017

- Bị đơn ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N vắng mặt không tham gia phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông ông T, bà N có nơi cư trú tại ấp P II, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

1.2 Về xác định mối quan hệ giữa ông T, bà N: Tòa án có văn bản gửi Tư pháp xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để trích lục bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa ông T, bà N thể hiện ông T và bà N có mối quan hệ vợ chồng được thể hiện qua trích lục số 161/TLKH-BS ngày 22/02/2018 của UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang: Ông T, bà N có đăng ký kết hôn tại số 79 ngày 25/7/2005. Hôn nhân giữa ông T, bà N được xác lập vào năm 2005 ,việc đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và cũng phù hợp với Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015, do đó quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà N là quan hệ hôn nhân hợp pháp

1.4 Về sự có mặt của đương sự tại nơi cư trú: Căn cứ vào các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án gồm: Biên bản xác minh nơi cư trú đương sự ngày 09/02/2018 tại Công an xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, An Giang thể hiện các đương sự ông T, bà N vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P II, xã B , huyện C, An Giang; Hiện không có mặt tại địa phương khoảng 02 tháng nay; Ông T, bà N thay đổi nơi cư trú, nhưng không trình báo cho chính quyền địa phương và phải có nghĩa vụ thông báo cho bà Th biết về nơi cư trú mới. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự 2015; Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đây được coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung

1.5 Về quyền,nghĩa vụ của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần trong quá trình tố tụng như: phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo đối chất; Nhưng phía bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến; Không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Phiên đối chất và cũng không cung cấp chứng cứ theo Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 13/2018/QĐ-CCTLCC ngày 27/3/2018 để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông T, bà N đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như từ bỏ quyền và không thực hiện các nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70; Điều 72 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra, Tòa án tiến hành một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ trong vụ án như lấy lời khai ông T, bà N vào ngày 09/02/2018, nhưng không tiến hành lấy lời khai được do các đương sự không có mặt vào thời điểm Tòa án tiến hành lấy lời khai.

1.6 Về sự có mặt của đương sự: Các thủ tục tố tụng của Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T, bà N đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng đồng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đồng thời, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/7/2018. Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bà Th. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với N đơn và đồng bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Th với ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N có xác lập hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của Th là 02 biên nhận nợ cùng ngày 28/9/2017 mỗi biên nhận thể hiện vay số tiền là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), thời gian trả nợ là sau 15 ngày, mục đích vay đáo hạn ngân hàng, không thỏa thuận lãi suất, nhưng có thỏa thuận miệng với nhau sau 15 ngày không trả nợ thì tính trả lãi suất. Từ khi vay cho đến nay, phía ông T, bà N không thực hiện trả vốn lãi theo thỏa thuận. Bị đơn ông T, bà N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử không xem xét

Hợp đồng vay hai bên xác lập vào ngày 28/9/2017 chịu sự điều chỉnh Bộ luật dân sự 2015. Do đó, các hợp đồng vay tài sản giữa các bên phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, ông T và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay; Nên phải có nghĩa vụ trả vốn, lãi theo quy định tại Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể số tiền lãi được tính như sau:

Ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày 14/10/2017 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là ngày 30/7/2018 là 09 tháng 16 ngày: 300.000.000đ x 0,83% x 150% x 09 tháng 16 ngày = 35.607.000đ (Ba mươi lăm triệu, sáu trăm lẽ bảy ngàn đồng). Cộng số tiền vốn 335.607.000đ (Ba trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ bảy ngàn đồng). Từ những phân tích và nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của ông Trình và bà Duyên là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX xem xét chấp nhận. Do đó ông T và bà N phải có trách nhiệm trả cho bà Th số tiền vốn lãi là 335.607.000đ (Ba trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ bảy ngàn đồng)

Về án phí sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc Th được chấp nhận, nên không phải chịu án phí. Bà Th được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp được quy định tại Điều144 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

Ông T, bà N phải có trách nhiệm liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm được quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85 và khoản 2 Điều 86 , Điều 147, Điều 217, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 3 Điều 40, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

- Điều 27 Luật Hôn nhân Gia đình 2014;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhâ ̣n toàn bộ phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thị Ngọc Th đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.

Buộc ông ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Th số tiền vốn lãi là 335.607.000đ (Ba trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ bảy ngàn đồng).

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 16.780.350 đồng (Mười sáu triệu, bảy trăm tám mươi ngàn, ba trăm năm mươi đồng)

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Th số tiền tạm ứng án phí là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003216 ngày 20/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2018), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ