vanban.org

Bản án 119/2017/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Kha L.

1/ Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/12/2009 cho bà Trương Thị Kha L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Trương Thị Kha L không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Văn T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Kha L -Nguyễn văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Kha L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2017
V/ v Tranh chấp về “Thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Hạnh.

2. Ông Nguyễn Tất Ái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố M tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang: Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên .

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Toà án nhân dân thành phố M xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 360/2017/TLST-HNGĐ ngày 12/6/2017 về Tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2017/QĐ-ST ngày 28/8/2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kha L, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấp 3, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Địa chỉ hiện nay: số 452 đường huyện 92B, ấp 5, xã Đ, Thành phố M, Tiền Giang (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977.

Địa chỉ: số 140/6 đường L, Phường 6, TP M, Tiền Giang.

Địa chỉ hiện nay: số 161C đường Đ, ấp 5, xã T, Thành phố M, Tiền Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản khai và tại Tòa hôm nay, bà Trương Thị Kha L trình bày: bà và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng, đã ly hôn theo Quyết định số 57/2015/QĐHNGĐ-ST ngày 10/4/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố M. Theo nội dung Quyết định trên thì bà và ông T thống nhất giao con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/12/2009 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông T chăm sóc cháu T chưa chu đáo, chưa quan tâm đến nguyện vọng của cháu T. Mặt khác, hiện nay ông T đã có vợ khác và đã có thêm con nên cháu T có nguyện vọng về sống với bà. Đồng thời hiện nay bà cũng có nơi ở và việc làm ổn định nên bà đã rước cháu T về sống chung và trực tiếp chăm sóc cháu T từ tháng 5/2017 cho đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản khai và biên bản hòa giải tại Tòa, ông Nguyễn Văn T trình bày: ông là người trực tiếp chăm sóc con chung tên Nguyễn Hoàng T từ khi ông và bà Kha L L hôn. Cho đến tháng 5/2017 bà L đến nhà ông và tự ý rước cháu T về sống chung cho đến nay. Đối với yêu cầu của bà L ông T không đồng ý vì ông có đủ khả năng, điều kiện để nuôi cháu T. Quá trình tố tụng, Toà án nhân dân Thành phố M đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định nhưng tại phiên toà hôm nay ông T vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố M tham gia phiên toà có ý kiến phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng:

+ Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử: Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với bị đơn không có mặt theo các văn bản tố tụng triệu tập của Tòa án nên bị đơn chưa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy việc bà Trương Thị Kha L xin thay đổi người nuôi con là có cơ sở, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kha L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp về “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố M.

Xét thấy bà Trương Thị Kha L và ông Nguyễn Văn T đã ly hôn theo Quyết định số 57/2015/QĐHNGĐ-ST ngày 10/4/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố M. Theo đó ông T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2009. Căn cứ lời trình bày của bà L, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản lấy lời khai của Nguyễn Hoàng T, cháu đang ở độ tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình và cháu có nguyện vọng ở với bà L. Xét thấy Bà L có nơi ở và công việc ổn định, thời gian làm việc phù hợp với việc chăm sóc và đưa đón cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu T nên việc bà L yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là có cơ sở chấp nhận.

Nhận định ý kiến của VKS: Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đối với bị đơn không có mặt theo các văn bản tố tụng triệu tập của Tòa án nên bị đơn chưa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Kha L.

1/ Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12/12/2009 cho bà Trương Thị Kha L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Trương Thị Kha L không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Văn T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

2/ Về án phí: Bà Trương Thị Kha L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà đã nộp theo biên lai 32035 ngày 09/6/2017 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố M, xem như đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Trương Thị Kha L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ