- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Nguyễn Trần Kỷ N. Bị đơn ông Nguyễn Hữu P"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _______________________ Bản án số: 1188/2017/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2017. Về việc tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thanh Hồng
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa : Ông Hoàng Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 156/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1540/2017/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1751/2017/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Kỷ N, sinh năm 1977, địa chỉ: 15/13/2 Nguyễn D, Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1973, địa chỉ: 15/13/2 Nguyễn D, Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/01/2017 và các lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Trần Kỷ N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hữu P, tự nguyện kết hôn với nhau năm 1997, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường N, quận Gò Vấp theo giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01/97, cấp ngày 23/7/1997.
Quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Nguyễn Nguyễn Phương N (sinh ngày 04/11/1997) và Nguyễn Hoàng Nhật Q (sinh ngày 21/12/2004). Bà và ông P chung sống không hạnh phúc. Mâu thuẫn phát sinh giữa do tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm sống lối sống, vợ chồng không thể tôn trọng, quan tâm, chia sẻ với nhau trên nhiều lĩnh vực. Ông P hay ghen tuông thường xuyên nhục mạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của bà, không tôn trọng bà. Nhận thấy tình cảm không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà yêu cầu được ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống. Về quan hệ hôn nhân: bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P. Về con chung: Nguyễn Nguyễn Phương N đã trưởng thành, Nguyễn Hoàng Nhật Q bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Q và không yêu cầu ông P cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hữu P không đến Tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Nguyễn Hữu P cũng như không nhận được các tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào các ngày 28/6/2017 theo quy định pháp luật và đã gửi thông báo kết quả phiên họp cho ông Nguyễn Hữu P được biết.
Do bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P. Về con chung: bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Hoàng Nhật Q (sinh ngày 21/12/2004), không yêu cầu ông P cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Nguyễn Hữu P vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng cho đương sự và hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trần Kỷ N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Nguyễn Nguyễn Phương N (sinh ngày 04/11/1997) đã trưởng thành, trẻ Nguyễn Hoàng Nhật Q (sinh ngày 12/12/2004) giao cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Hữu P cho đến khi bà N có yêu cầu. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phi dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi Nên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp:
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01/97 do Ủy ban nhân dân Phường N, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/1997 thì bà Nguyễn Trần Kỷ N và ông Nguyễn Hữu P có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà N có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông P, ông P có địa chỉ cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
Toà án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập cũng như Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ 2 nhưng ông P vẫn vắng mặt, theo khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về yêu cầu của nguyên đơn.
Xét lời khai của bà N thể hiện cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng quan tâm chia xẻ với nhau trên nhiều lĩnh vực, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Theo kết quả xác minh của Ban chấp hành Hội Phụ nữ Phường B quận Gò Vấp thể hiện “Bà Nguyễn Trần Kỷ N và ông Nguyễn Hữu P có cuộc sống không hạnh phúc, thường hay cãi nhau. Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Nguyễn Phương N sinh năm 1997 đã lập gia đình và Nguyễn Hoàng Nhật Q sinh năm 2004. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2015. Nguyên nhân do chồng nhậu nhẹt ghen tuông và bạo hành vợ. Hiện bà N và ông P vẫn còn sống chung nhà. Nếu ly hôn thì bà N là người thích hợp nuôi con”. Căn cứ khoản 2 Điều 78 Bộ luật dân sự, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Phần 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xét mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa giải quyết cho ly hôn là phù hợp, nghĩ nên chấp nhận.
Về con chung: Nguyễn Nguyễn Phương N (sinh ngày 04/11/1997) đã trường thành. Trẻ Nguyễn Hoàng Nhật Q (sinh ngày 21/12/2004) có nguyện vọng được sống với mẹ. Bà N có mong muốn được giữ nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con cho bà N giữ nuôi là phù hợp với nguyện vọng của trẻ.
Về tài sản chung: Theo trình bày của bà N thì tài sản chung không có, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên do chưa ghi nhận được ý kiến của ông P về vấn đề tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Trần Kỷ N phải chịu theo quy định tại tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trần Kỷ N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P (giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01/97 do Ủy ban nhân dân Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/1997 không còn giá trị)
2. Về con chung: Giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Nhật Q (sinh ngày 21/12/2004) đến tuổi trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông P cấp đưỡng nuôi con.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi P thức cấp dưỡng, tạm dừng việc cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Trần Kỷ N được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Cả hai có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông P và bà N có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Trong trường hợp một trong hai bên lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bên kia.
Một bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Điều 82 Luật hôn nhân gia đình; Một bên có quyền yêu cầu bên kia và các thành viên gia đình của bên kia tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Một bên cùng các thành viên trong gia đình của mình không được cản trở bên kia trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của ông P, bà N hoặc người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi ông P, N có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân gia đình, ông P, bà N hoặc người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Trần Kỷ N chịu nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0017807 ngày 16/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Trần Kỷ N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Hữu P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: -TAND TP.HCM; -VKSND quận Gò Vấp; -Chi cục THADS quận Gò Vấp; -UBND P5,QGV -Các đương sự; -Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tài |