vanban.org

Bản án 1185/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự năm 2015;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1185 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 11-9-2019
V/v:“Tranh chấp Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Thuận

2. Ông Trần Thạnh Hưng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thục Đoan - Cán bộ Tòa

án nhân dân quận Gò Vấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn

Thị Hải Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 531/2019/HNST ngày 25 tháng 04 năm 2019, về việc:

“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23

tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19

tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thụy Thùy D - sinh năm: 1991; Địa chỉ: đường A,

Phường B, quận C, Tp.HCM.

- Bị đơn: Ông Ngô Hoàng T – sinh năm: 1992; Địa chỉ: đường M, Phường B,

quận P, Tp.HCM.

(Bà D có đơn xin vắng mặt; Ông T vắng mặt không có lý do)

NHẬN THẤY:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/04/2019 và các lời trình bày trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thụy Thùy D trình bày: Bà và ông Ngô Hoàng T

chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B,

quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc,

quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, sau một thời gian dài chung sống có

những bất hòa không thể giải quyết được. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế, bất đồng

quan điểm, ông T là một người ăn chơi, không có chí cầu tiến để phụ giúp bà D về tài

chính. Hai bên đã nhiều lần ngồi lại trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, nhưng rồi mọi việc cũng không có kết quả, không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, vợ chồng không quan tâm, giúp đỡ nhau, đối xử lạnh nhạt với nhau. Hiện nay hai bên đã không còn tình cảm. Vợ chồng sống ly thân, không còn trao đổi hay bất cứ liên lạc nào. Đời sống chung của ông bà không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, bà D có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải

quyết cho bà ly hôn với ông T; con chung không có; tài sản chung không có và nợ chung không có.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Ngô Hoàng T để tham gia xét xử

nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về việc tuân

theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

* Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án

từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Tống đạt cho các đương sự đúng quy định quy định tại Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tiến hành phiên hòa giải đúng quy định tại Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn theo quy định tại khoản 2, Điều 220, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên

tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án

cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thụy Thùy D được ly hôn với ông Ngô

Hoàng T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu

quan điểm về vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thụy Thùy D đối với ông Ngô

Hoàng T là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số: 107/2017 ngày 27/9/2017

tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân

giữa bà Nguyễn Thụy Thùy D và ông Ngô Hoàng T là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và

Gia đình.

1/ Về yêu cầu xin ly hôn của bà D; xét thấy, trong thời gian chung sống vợ

chồng không hạnh phúc do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Bà D

đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng ông

T không đến Tòa, điều đó thể hiện ông T không cần biết đến kết quả của việc bà D xin

ly hôn với ông.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà D là phù hợp với quy định tại

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vì thực tế cả hai không còn tình cảm, mục đích

hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng nữa.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thụy Thùy D đối với ông

Ngô Hoàng T.

2/ Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có. Không yêu cầu Tòa án giải

quyết

Nợ chung: Nguyên đơn xác định không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 28, Điều 35, Khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, 82, 83, 84

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng

án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thụy Thùy D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thụy Thùy D được ly hôn với ông Ngô

Hoàng T. Giấy chứng nhận kết hôn số: 107/2017 ngày 27/9/2017 tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thụy Thùy D phải chịu 300.000 (Ba

trăm ngàn đồng), cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà D đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0000578 ngày 25/04/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà D đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo các Điều 7, 30, 31 và 32 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án theo đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ