vanban.org

Bản án 1183/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị Mỹ Anh:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Mỹ Anh, sinh năm 1991 và ông Phạm Minh Luân, sinh năm 1988 được ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2016, ngày 18/5/2016 được UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Mỹ Anh và ông Phạm Minh Luân hết hiệu lực ngay sau khi bản án nà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị Mỹ Anh:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 1183/2022/ HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2022
V/v: “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký phiên toà:

Bà Phạm Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:

Bà Phan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 808/2021/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/6/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ Anh, sinh năm 1991 (có mặt)

Bị đơn : Ông Phạm Minh Luân, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn kiện cùng các lời khai của bà Trần Thị Mỹ Anh trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thể hiện như sau:

Bà và ông Phạm Minh Luân tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2016, được UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2016, ngày 18/5/2016.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Bản thân ông Luân đam mê cờ bạc, không lo làm ăn để mặc bà một mình vừa chăm sóc con vừa lo kinh tế cho cả gia đình, bà đã nhiều lần góp ý mong ông Luân vì gia đình, vợ con mà suy nghĩ lại, cùng bà vun đắp hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái nhưng ông Luân vẫn không thay đổi nên cuộc sống vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, đôi khi dẫn đến xô xát. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên bà và ông Luân đã sống ly thân từ tháng 5/2020 đến nay. Trong suốt thời gian sống ly thân, bà và ông Luân mạnh ai lo cuộc sống của người đó, không ai quan tâm đến ai.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng là không thể nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Luân để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Anh khai bà và ông Luân có 02 người con chung tên Phạm Trần Mai Hoa, sinh ngày 09/6/2016 và Phạm Trần Mai Mai, sinh ngày 09/8/2018. Từ khi sống ly thân đến nay các con do bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Mai Hoa và Mai Mai.

Về vấn đề cấp dưỡng việc nuôi con: Bà Anh không yêu cầu ông Luân cấp dưỡng việc nuôi con chung cho bà.

Về tài sản chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có nợ chung.

Phía bị đơn – ông Phạm Minh Luân đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lên Tòa án làm bản tự khai, Thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Ông Luân đã nhận các văn bản của Tòa án nhưng ông Luân cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

Tại phần tranh luận:

Nguyên đơn không phát biểu ý kiến tranh luận. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Về quá trình giải quyết từ thời điểm thụ lý đến thời điểm xét xử: Kể từ khi thụ lý vụ án vào ngày 20/5/2021 đến thời điểm xét xử sơ thẩm vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã tuân thủ đúng quy định Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng :

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.

Về nội dung:

Ngày 07/5/2021, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận được đơn khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ Anh về việc yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Minh Luân.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, bà Anh và ông Luân chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2016, ngày 18/5/2016. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Anh và ông Luân là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn – bà Anh xin được ly hôn do vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không cùng quan điểm sống và ông bà đã sống ly thân từ lâu. Bị đơn – ông Luân đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Luân không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không gửi ý kiến bằng văn bản trình bày nguyện vọng về quan hệ hôn nhân cũng như việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Anh khai bà và ông Luân có 02 người con chung tên Phạm Trần Mai Hoa, sinh ngày 09/6/2016 và Phạm Trần Mai Mai, sinh ngày 09/8/2018. Từ khi sống ly thân đến nay các con do bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Mai Hoa và Mai Mai và không yêu cầu ông Luân cấp dưỡng việc nuôi con chung. Ông Luân không có ý kiến về yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Anh. Do đó cần tiếp tục giao 02 người con chung cho bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ Anh phải đóng án phí dân sự sơ thẩm.

Bởi các l trên, đề nghị HĐXX xem xét tuyên: Căn cứ Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Thị Mỹ Anh và ông Phạm Minh Luân là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – ông Phạm Minh Luân có địa chỉ cư trú tại số 426B/A2 Nơ Trang Long, Phường 13, quận Bình Thạnh. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 28/5/2021 của Công an Phường 13, quận Bình Thạnh, có cơ sở xác định ông Phạm Minh Luân có hộ khẩu trường trú và hiện đang thực tế cư ngụ sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 15/6/2022 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 30/6/2022 nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định.

. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Mỹ Anh và ông Phạm Minh Luân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2016, ngày 18/5/2016, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Qua các lời khai của bà Anh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đều khẳng định tình trạng hôn nhân giữa bà và ông Luân đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra tranh cãi đôi khi còn dẫn đến xô xát. Bà Anh khẳng định, hiện bà không còn tình cảm gì với ông Luân, cả hai đã sống ly thân một thời gian khá dài, trong suốt thời gian sống ly thân giữa đôi bên chưa một lần gặp mặt cũng không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau về mọi mặt trong cuộc sống, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ lúc thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Phạm Minh Luân đến Toà án để giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng ông Luân đều vắng mặt không có lý do. Trong đó có hai lần triệu tập hợp lệ ông Luân đến Tòa để Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, ông Luân đã nhận văn bản của Tòa án nhưng cũng không có bất cứ ý kiến phản hồi gì bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà Anh. Điều này thể hiện, ông Luân thực sự không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa ông và bà Anh, không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn vợ chồng để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, chung tay nuôi dạy con cái.

Toà án cũng đã nhiều lần phân tích, động viên bà Anh quay về đoàn tụ với ông Luân nhưng bà Anh khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng hàn gắn là không thể. Vì vậy, bà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Luân.

Từ các cơ sở trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Anh và ông Luân đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Anh.

Về con chung: Bà Anh khai bà và ông Luân có 02 người con chung tên Phạm Trần Mai Hoa, sinh ngày 09/6/2016 và Phạm Trần Mai Mai, sinh ngày 09/8/2018. Từ khi bà Anh và ông Luân sống ly thân đến nay các con do bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, bà Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung, còn ông Luân lại không có bất kỳ ý kiến gì về yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung của bà Anh. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu này của bà Anh là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ và tránh được sự xáo trộn về mặt tâm lý, do đó cần phải tiếp tục giao trẻ Mai Hoa và Mai Mai cho bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Anh, về việc không yêu cầu ông Luân cấp dưỡng việc nuôi con cho bà.

Về tài sản chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có nợ chung.

3.Về án phí : Bà Anh phải nộp án phí DSST không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227 ; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật thi hành án dân sự;

- Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị Mỹ Anh:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Mỹ Anh, sinh năm 1991 và ông Phạm Minh Luân, sinh năm 1988 được ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2016, ngày 18/5/2016 được UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Mỹ Anh và ông Phạm Minh Luân hết hiệu lực ngay sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao trẻ Phạm Trần Mai Hoa, sinh ngày 09/6/2016 và trẻ Phạm Trần Mai Mai, sinh ngày 09/8/2018 cho bà Trần Thị Mỹ Anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện bà Trần Thị Mỹ Anh, về việc không yêu cầu ông Phạm Minh Luân cấp dưỡng việc nuôi trẻ Mai Hoa và Mai Mai cho bà.

Ông Phạm Minh Luân được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Anh khai bà và ông Luân không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các bên thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Án phí DSST : 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Mỹ Anh nộp toàn bộ, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Anh đã nộp theo biên lai thu số 0089797 ngày 19/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Sau khi cấn trừ Anh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Mỹ Anh được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Minh Luân được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Anh thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ