vanban.org

Bản án 1182/2020/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/08/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định

về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1/ Đình chỉ phần yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Vương Cát Nh-Đặng Thị O"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
Bản án số: 1182/2020/DS-ST
Ngày: 10/8/2020

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu

cầu hủy quyết định hành chính và công

nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Trần Thị Thủy

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

2. Ông Nguyễn Thành Thông."

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H"tham"gia"phiên"tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2019/DSST ngày 19 tháng 02 năm

2019 về “tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định hành chính và

công nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

3636/2020/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự;

Nguyên"đơn: Ông Vương Cát Nh, sinh năm 1946.

Người đại diện hợp pháp: Bà Hà Thị L, sinh năm 1949.

(theo Giấy ủy quyền số công chứng 00003697 quyển số 01 TP/CC-

SCC/HĐGD lập tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị B ngày 18/10/2019)

Cùng địa chỉ: Số 988 đường T, tổ 9, ấp 1, xã H, huyện B, Thành phố H.

Bị"đơn: Bà Đặng Thị O, sinh năm 1948. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 352/9, ấp 1, xã H, huyện B, Tp. H.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

- Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H.

Địa chỉ: Số 330 đường B, xã X, huyện B, Thành phố H.(xin vắng mặt)

- Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, Tp. H.

Địa chỉ: Số 1168 đường T, ấp 3, xã H, huyện B, Tp. H. (xin vắng mặt)

- Bà Hà Thị L, sinh năm 1949.

Địa chỉ: Số 988 đường T, tổ 9, ấp 1, xã H, huyện B, Thành phố H. (có mặt)

- Bà Huỳnh Thị Ch, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Số 145 đường T, Phường M, Quận M, Thành phố H

- Ông Đào Duy T, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số 307/1, tổ 2, ấp 2, xã H, huyện B, Tp. H

(Ủy ban nhân dân huyện B, bà Ch, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 16/3/2018 và Đơn khởi kiện bổ sung ngày

12/11/2018 của nguyên đơn ông Vương Cát Nh và các Bản tự khai do ông Nh và bà Hà Thị L là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/5/1997, ông Nh mua một lô đất của bà Đặng Thị O có diện tích

là 230m2 thuộc thửa 21, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện B với giá 13.000.000 đồng. Ông Nh đã thanh toán hết tiền, bà O đã giao đất cho ông Nh hai bên có ký Hợp đồng và được Ủy ban nhân dân xã H chứng nhận ngày 22/5/1997. Sau khi chuyển nhượng, ông Nh đã xây dựng nhà và gia đình ông ở ổn định từ đó tới nay. Trong Hợp đồng chuyển nhượng, bà O cam đoan sau khi chờ Giấy ruộng chính thức về sẽ làm thủ tục sang nhượng chính thức. Ngày 02/01/2002 bà O đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều lần ông làm đơn xin chuyển sổ bà O đều gây khó khăn, thậm chí Ủy ban nhân dân xã yêu cầu bà O đến để giải quyết bà O cũng không đến làm thủ tục tách thửa cho ông Nh.

Ngày 20/12/2002 bà O chuyển nhượng một phần thửa 22+39 tờ bản đồ số

7 xã H cho bà Huỳnh Thị Ch diện tích đất là 151m2 (thửa 543 mới).

Ngày 27/10/2008, Phòng Tài nguyên &Môi trường chỉnh lại diện tích

cho bà Ch là 156,4m2 , sau đó bà Ch đã chuyển nhượng phần đất này cho ông Đào Duy T.

Ngày 07/10/2008 Ủy ban nhân dân huyện B đã điều chỉnh diện tích

trên Giấy chứng chứng nhận cho bà O được quyền sử dụng 424m2 thuộc thửa số 60+ 39 và thu hồi thửa 22+39 diện tích 34,64m2. Bà O đã xây tường bao quanh phần diện tích đất được công nhận. Hiện nay địa chính xã cho ông biết phần đất ông Nh đang ở thuộc 22+39 cũ nay là thửa 59 tờ bản đồ số 13. Ông Nh cho rằng phần đất của ông hiện bà Ch đứng tên 95m2, ông T đứng tên 62,5m2 bà O đứng tên 31,64m2.

Nay, ông Nh yêu cầu Tòa công nhận 188,5m2 đất thuộc thửa 59, tờ bản

đồ số 13 xã H thuộc quyền sử dụng của ông Nh và yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho ông Nh. Yêu cầu Tòa hủy bỏ

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho tất cả những ai có giấy đất nằm

trong khung hiện trạng 185m2 thuộc thửa 22-39 tờ bản đồ số 7, nay là thửa 59

tờ bản đồ số 13 xã H, huyện B.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2019 (BL) bà Đặng Thị O khai: Vào

năm 1997 bà O bán cho ông Nh phần đất như ông Nh đã trình bày là đúng

nhưng do bà O đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng với

thực tế phần đất mà bà O đã sử dụng trong đó có phần đất bà O đã bán cho ông

Nh. Năm 2009 bà O điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được

Ủy ban nhân dân huyện B cấp công nhận phần đất thực tế bà đang sử dụng và

phần diện tích đất bà bán cho ông T, còn lại bao nhiêu thì Huyện thu hồi. Bà O

xác định phần đất bà O bán cho ông Nh không liên quan đến phần đất mà bà đã

bán cho bà Huỳnh Thị Ch. Khi nhà nước thu hồi và đền bù đối với một phần

diện tích đất trên chính bà L vợ ông Nh đã nhận tiền bồi thường, chính bà O đã

yêu cầu ông Nh đi tách thửa nhưng ông Nh không đi, hiện ông Nh đã xây dựng

nhà và ở trên phần đất bà đã bán cho ông Nh. Đối với yêu cầu khởi kiện của

ông Nh bà O cho rằng bà đã bán cho ông Nh bà không có tranh chấp gì. Đề

nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì bà già yếu nên xin được

vắng mặt trong quá trình hòa giải xét xử tại Tòa án.

Tại bản tự khai ngày 17/4/2018 bà Huỳnh Thị Ch khai: Trước đây bà có

mua của bà Đặng Thị O một lô đất có diện tích 151m2 tại xã H huyện B. Sau

khi đo đạc thực tế cấp giấy chứng nhận thì diện tích được công nhận là 156,4m2

thuộc thửa số 62 tờ bản đồ số 13. Đến năm 2010 bà đã chuyển nhượng toàn bộ

phần đất này cho ông Đào Duy T. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

bà Ch không có ý kiến; Phần đất đã cấp cho bà và phần đất của ông Nh đã mua

của bà O là hai phần đất riêng biệt không trùng nhau. Do bà đã bán đất cho

người khác không còn liên quan nên bà yêu cầu xin được vắng mặt trong các

phiên hòa giải và xét xử tại Tòa.

Tại Bản tự khai ngày 17/4/2018 bà Hà Thị L khai: Bà là vợ của ông Nh, bà

hoàn toàn thống nhất với lời khai và yêu cầu khởi kiện của ông Nh.

Tại bản tự khai ngày 07/8/2020 ông Đào Duy T trình bày: Phần đất ông T

đang ở mua của bà Huỳnh Thị Ch đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng,

đất giáp với phần đất nhà của ông Nh và tách biệt không chồng lấn và có hàng

rào ngăn cách với phần đất của ông Nh. Ông không có tranh chấp gì với ông Nh.

Việc ông Nh kiện tranh chấp đất với bà O ông không liên quan và không có ý

kiến gì. Đề nghị Tòa xử theo quy định của pháp luật. Do già yếu nên ông T xin

vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Ngày 09/3/2020, ông Nh có yêu xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện cụ

thể rút lại phần yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của những hộ

liền kề vì lý do phần đất của ông Nh đang sử dụng không bị trùng lặp với ai và

không bị ai tranh chấp.

Tại phiên tòa phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị

Tòa công nhận cho ông Vương Cát Nh và bà Hà Thị L được quyền sử dụng hợp pháp phần diện tích đất là 180,4m2 thuộc thửa cũ 21 thửa phân chiết là 21-1, 22-1 thuộc tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB); theo tài liệu năm 2007 thuộc thửa 59 phân chiết thửa 59-1, 59-2 tờ bản đồ số 13 (theo bản đồ hiện trạng vị trí xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/11/2018). Và yêu cầu Ủy ban nhân dân B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần nhà đất này.

Tại Công văn số 1662/UBND-TNMT ngày 15/7/2019 của Ủy ban nhân

dân huyện B xác nhận việc thu hồi phần đất có diện tích 424m2 thuộc một phần thửa 60 = 39,8m2, 62 = 11m2, 63 = 220m2 theo Bản đồ số 2004.

(Theo bản đồ 02/CT-UB bà Đặng Thị O thực tế sử dụng thuộc một phần

thửa 22 = 64,3m2, 38 = 39,4m2, 39 = 320m2 tờ bản đồ số 9). Do vậy, Phòng Tài nguyên và Môi trường cần phải thu hồi chỉnh lý …. Việc thu hồi phần diện tích đất trên không ban hành quyết định mà chỉ chỉnh lý theo đơn yêu cầu ngày 22/8/2008 của bà Đặng Thị O.

Phía ông Nguyễn Văn Âu là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Ủy ban nhân dân xã H trình bày: Phần đất ông Nh đang sử dụng hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận, hiện trạng đất đã có ranh, mốc giới ổn định, tại thời điểm này không ai tranh chấp, trường hợp ông Nh muốn nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận thì ông Nh cần đo vẽ lại hiện trạng đất đang sử dụng, sau đó ông Nh có thể lựa chọn nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã H hoặc Ủy ban nhân dân huyện B để được xem xét hồ sơ cấp giấy theo quy định. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nh đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Tòa án đã thực hiện đúng quy định về quá trình thụ lý và giải quyết vụ

án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục và trình tự phiên tòa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Với những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương

sự tại phiên tòa có đủ cơ sở chứng minh được nguyên đơn là người sử dụng hợp pháp phần diện tích đất 180,4m2 thuộc một phần thửa số 21 (theo tài liệu 02/CT-UB) tờ bản đồ số 7 nay là thửa 59 phân chiết thửa 59-1, 59-2 tờ bản đồ số 13 theo tài liệu năm 20107. Tuy nhiên tại phiên tòa ông Nh xác định phần diện tích nhà đất ông Nh đang sử dụng không có ai tranh chấp với ông và không chồng lấn lên đất của ông T và bà O. Ông Nh đã rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không tranh chấp với bà O nên đề nghị Tòa đình chỉ yêu cầu này của ông Nh. Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất là 180,4m2 thuộc thửa cũ 21 thửa phân chiết là 21-1, 22-1 thuộc tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB); theo tài liệu năm 2007 thuộc thửa 59 phân chiết thửa 59-1, 59-2 tờ bản đồ số 13 (theo bản đồ hiện trạng vị trí xác định ranh

do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập

ngày 08/11/2018) căn cứ vào Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 thì thuộc thẩm

quyền của Ủy ban nhân dân cấp huện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn vì không thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng

xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Đặng Thị O và những người

có quyền, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện B, Ủy ban nhân dân xã H,

bà Huỳnh Thị Ch, ông Đào Duy T do các đương sự đã có đơn xin xét xử vắng

mặt.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn và

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ Khoản 9 Điều 26,

Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và căn cứ vào Khoản 4

Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố H.

Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa do ông Nh

xác định phần đất hiện ông đang sử dụng giữa ông, bà O và ông T không có

sự tranh chấp, hiện phần đất giữa các bên không có sự chồng lấn số thửa và

đất ai thì người đó sử dụng do đó ông Nh xin rút lại yêu cầu tranh chấp đất

với bị đơn bà O và rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vì vậy Tòa đình chỉ phần yêu cầu này của ông Nh.

[2] Về nội dung tranh chấp.

Xét, việc ông Nh yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất đối với phần diện tích nhà nhà đất nêu trên.

Thấy, tại Công văn số 315/UBND ngày 14/12/2016 của Ủy ban nhân dân

xã H về việc giải quyết hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Theo đó ông Vương Cát Nh xin

đăng ký vị trí đất thuộc một phần thửa 22 = 92,4m2, thửa 39 = 95,4m2 tờ bản đồ

số 07, xã H (theo tài liệu 02/CT-UB), theo tài liệu BĐĐC thuộc một phần thửa

59, tờ bản đồ số 13, xã H. Ủy ban nhân dân xã H cho rằng hồ sơ của ông Nh

chưa đủ điều kiện để giải quyết vì;

“1."Vị"trí"khu"đất"ông"Vương"Cát"Nh"xin"đăng"ký"đã"được"Ủy"ban"nhân"

dân"huyện"B"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"nhà"ở"và"tài"sản" khác"gắn"liền"với"đất"số"03254/QSDĐ/H-UBND"ngày"02/01/2002"cho"bà"Đặng" Thị"O,"địa"chỉ"352/9"ấp"1,"xã"H,"huyện"B,"Tp."H."

2." Qua" đối" chiếu" quy" hoạch," khu" đất" nằm" trong" Khu" tái" định" cư" Khu"

công"nghiệp"H"giai"đoạn"2"đã"được"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"H"chấp"thuận" chủ"trương,"đồng"thời"nằm"trong"kế"hoạch"thu"hồi"đất"năm"2017"của"huyện"B" đang"trình"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"H"phê"duyệt”.""

Xét; Tại Công văn số 2387/UBND-TNMT ngày 03/12/2014 của Ủy ban

nhân dân huyện B về việc trả lời Thông báo số 487/TB-TAHNB ngày 01/11/2014 có nội dung;

“Thửa"đất"số"22"="31,64/128m2"và"thửa"39"="848,83/13335m2"tờ"bản"đồ"

số"7,"xã"H"đã"thu"hồi"theo"Văn"bản"số"304/CV-UB"ngày"07/10/2008"của"Ủy"ban" nhân"dân"xã"H.”"

Đối chiếu theo Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc

Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/11/2018 thì phần diện tích đất 180,4m2 hiện do ông Vương Cát Nh trực tiếp quản lý sử dụng tọa lạc tại thửa số 59 (phân chiết thửa 59-1, 59-2, 59-3) tờ bản đồ số 13 (theo tài liệu năm 2007) và thuộc thửa số 21 (phân chiết thửa 21-1, 21-2) theo tài liệu 02/CT-UB tờ bản đồ số 7 và qua lời khai của bà O, ông Nh, ông T đều khẳng định hiện tại ông Nh vẫn đang quản lý sử dụng phần diện tích đất mua của bà Đặng Thị O, phần diện tích đất bà O đang quản lý sử dụng thuộc các thửa 60, 62, 63, 64 không phải thửa 59, tờ bản đồ số 13.

Các bên đều xác định phần diện tích đất mà ông Nh đang sử dụng không

chồng lấn lên đất của ông Đào Duy T và bà Đặng Thị O, các hộ này không tranh chấp về phần diện tích đất mà ông Nh hiện đang sử dụng.

Từ những chứng cứ và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để

xác định; Phần đất ông Nh đang sử dụng có nguồn gốc chuyển nhượng hợp pháp, khi ký hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Nh và bà Đặng Thị O hai bên đều xác định phần diện tích đất này tọa lạc tại thửa số 21, tờ bản đồ số 7. Nhưng khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận bà Hà Thị L vợ của ông Nh lại kê khai thửa đất đăng ký thuộc thửa số 22-1; 39-1 từ đó dẫn đến việc nhầm lẫn không đúng với vị trí thửa đất thực tế mà ông Nh đang sử dụng (là thửa 21). Trên cơ sở này cơ quan có thẩm quyền từ chối cấp giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nh, bà L với hai lý do phần đất này nằm trong phần diện tích đất mà bà O được công nhận nhưng đã bị thu hồi và nằm trong khu quy hoạch là chưa chính xác. Chính việc từ chối này dẫn đến không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nh. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định phần diện tích đất ông Nh nhận chuyển nhượng từ bà O thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nh có hiện

trạng theo bản đồ hiện trạng vị trí xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ -

Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/11/2018).

Căn cứ vào Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 thì việc cấp giấy chứng

nhận công nhận quyền sử đất nêu trên theo yêu cầu của ông Nh thuộc thẩm

quyền của Ủy ban nhân dân huyện B. Vì vậy ông Nh"có quyền liên hệ với cơ

quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

theo định của pháp luật. Trong trường hợp phần đất của ông Nh bị quy hoạch

mà không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Nh vẫn được

hưởng các quyền lợi đối với phần diện tích đất này như trường hợp người có

đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị nhà nước thu hồi giải

tỏa.

Từ những căn cứ và phân tích nêu trên có đủ cơ sở để xác định yêu cầu

khởi kiện này của ông Nh không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân

dân thành phố H nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của ông

Nh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 2 và Điều 4 Luật Người cao

tuổi thì ông Nh thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

Hoàn lại ông Nh số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp

luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự

năm 2015;

Áp dụng khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Áp dụng Điều 105 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 2, Điểm e khoản 1 Điều 3 Luật Người cao tuổi;

Căn cứ Điểm đ Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định

về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Đình chỉ phần yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn

ông Vương Cát Nh với bị đơn bà Đặng Thị O và yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất do nguyên đơn rút phần yêu cầu này.

2/ Không chấp nhận yêu cầu của ông Nh về việc yêu cầu Ủy ban nhân

dân B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận ông Vương Cát

Nh được quyền sử dụng hợp pháp phần diện tích đất là 180,4m2 thuộc thửa cũ 21 thửa phân chiết là 21-1, 22-1 thuộc tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB); theo tài liệu năm 2007 thuộc thửa 59 phân chiết thửa 59-1, 59-2 tờ bản đồ số 13 (theo bản đồ hiện trạng vị trí xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/11/2018). Do yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố H.

Ông Nh có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo định của pháp luật.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Vương Cát Nh được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật. Hoàn lại ông Nh số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 2.900.000 (hai triệu chín trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AD/2014/0008703 ngày 21/3/2018 và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã đóng theo Biên lai thu số AA/2018/0033447 ngày 12/11/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, Thành phố H lập.

3/ Về các chi phí đo vẽ và xem xét thẩm định tại chỗ; ông Nh phải chịu,

ông Nh đã nộp đủ.

4/ Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ