vanban.org

Bản án 118/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bà Thái Hoàng Y có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến ngày 29/9/2025 là 63.248.897 đồng (sáu mươi ba triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng). Bà Thái Hoàng Y còn phải chịu lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/DS-ST
Ngày 29 tháng 9 năm 2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức và bà Dương Triết Minh.

- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLST-DS ngày 09/7/2025 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252A/2025/QĐXXST-DS ngày 11/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 206/2025/QĐST-DS ngày 11/9/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: phường X, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Dương Văn T – Chuyên viên thu hồi nợ (theo Giấy ủy quyền số 2457/2024/UQ-TT.XLN ngày 06/11/2024).

2. Bị đơn: bà Thái Hoàng Y, sinh năm 1993

Địa chỉ: khóm T, xã Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn bà Thái Hoàng Y vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 29/09/2022, bà Thái Hoàng Y có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Y, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 35.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Y đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 92.229.348 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Y đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 70.606.094 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Y vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 06/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 03/09/2024 bà Y còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc : 34.938.137 đồng, lãi quá hạn : 11.357.782 đồng, tổng cộng : 46.295.919 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Y có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Bà Y vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng kính đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bà Thái Hoàng Y:

Buộc bà Thái Hoàng Y phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2025 là 63.248.897 đồng (trong đó: nợ gốc 34.938.137 đồng, lãi quá hạn 28.310.760 đồng).

Bà Thái Hoàng Y có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Về phía bị đơn bà Thái Hoàng Y: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà Y nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay bà Y vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý hồ sơ Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ khi tiến hành lập hồ sơ, ban hành các thông báo, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng và tống đạt, niêm yết cho đương sự theo quy định. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên đã vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Bộ luật dân sự 2015; Luật các tổ chức tín dụng tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Thái Hoàng Y có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến ngày 29/9/2025 là 63.248.897 đồng.

Bà Thái Hoàng Y còn phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/9/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S - chi nhánh quận 7 – phòng giao dịch Tân Thuận với bà Thái Hoàng Y xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2.] Về thẩm quyền giải quyết: bà Thái Hoàng Y có đăng ký nơi cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3.] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn Tâm có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Thái Hoàng Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Tâm và bà Y.

Về nội dung: Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/9/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S - chi nhánh quận 7 – phòng giao dịch Tân Thuận với bà Thái Hoàng Y được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung các bên ký kết không trái với quy định của pháp luật do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Y không thanh toán vốn, lãi cho Ngân hàng nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã nhiều lần mời bà Y đến để hòa giải, đối chiếu các khoản nợ với ngân hàng nhưng bà Y vắng mặt không lý do. Như vậy bà Y không cung cấp chứng cứ nào để phủ nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đồng thời đến thời điểm này cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào thể hiện đã thực hiện xong số nợ trên cho ngân hàng. Việc bà Y sử dụng Thẻ tín dụng nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Y phải thanh toán tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến 29/9/2025 là 63.248.897 đồng (trong đó: nợ gốc 34.938.137 đồng, lãi quá hạn 28.310.760 đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra bà Thái Hoàng Y còn phải chịu các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.

Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 2 Điều 91, Điều 94 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bà Thái Hoàng Y có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến ngày 29/9/2025 là 63.248.897 đồng (sáu mươi ba triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng).

Bà Thái Hoàng Y còn phải chịu lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/9/2022 kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.

2. Về án phí:

- Bà Thái Hoàng Y phải chịu 3.162.444 đồng (ba triệu một trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí nên được hoàn lại 1.157.398 đồng (một triệu một trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi tám đồng) tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0051412 ngày 04/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà Thái Hoàng Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản tại nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ