vanban.org

Bản án 118/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1 và A T2phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng:Khoản 1 Điều 171; Điều 38;Điều 50; điểmb, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt:Bị cáoRơ Chơm L 01 năm 04 tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Chơm L cùng đồng bọn phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1 và A T2phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2024/HSST
Ngày 26/6/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU-TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Đình Hoằng.

2. Ông Nguyễn Văn Tuyên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình- Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:92/2024/HSST ngày 26 tháng 4năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS, ngày 24tháng 5 năm 2024đối với bị cáo:

1. Bị cáo thứ nhất:Rơ Chơm L. Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam. Sinh năm 2003, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Tin lành.

Trình độ học vấn: Không ; Nghề nghiệp: Làm nông.

Con ông L1, sinh năm 1961 và con bà H, sinh năm 1960.

Hiện cha mẹ của bị cáo trú tại:Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, bị cáo chưa có vợ,con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáoRơ Chơm Lbị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo thứ hai:Puih Diêm. Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam. Sinh năm 2004, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Tin lành.

Trình độ học vấn: 6/12 ; Nghề nghiệp: Làm nông.

Con ông Pui D, sinh năm 1969 và con bà H1, sinh năm 1976.Hiện cha mẹ của bị cáo trú tại:Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai

Có vợ Rơ Mah H2, sinh năm 2005. Bị cáocó 01 người con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáoPuih D1bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 28/02/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Bị can thứ ba:Thăp. Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam. Sinh năm 2002, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Tin lành.

Trình độ học vấn: 7/12 ; Nghề nghiệp: Không.

Con ông A, sinh năm 1959. Hiện trú tại:Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai và con bà H1(đã chết).

Có vợ T, sinh năm 2004. Bị cáocó 01 người con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáoT1bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.Có mặt tại phiên tòa.

4. Bị can thứ tư:A T2. Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam. Sinh năm 2004, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Tin lành.

Trình độ học vấn: 6/12 ; Nghề nghiệp: Không.

Con ông P, sinh năm: 1968 và con bà H3, sinh năm: 1970

Hiện cha, mẹ của bị cáo trú tại:Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai

Bị cáo có 04 người anh, chị ruột; lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2004, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáochưa có vợ con.

Bị cáoA T2bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 01/02/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa. Những ngƣời tham gia tố tụng:

* Bị hại:

- Trương Ngọc Á, sinh ngày 25/10/2006. Địa chỉ: 5 P, Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Ngọc Á: Ông Trương Văn T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: 5 P, Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lain(là cha của Trương Ngọc Á).Vắng mặt.

- Chị Vũ Đàm Phương T4, sinh ngày 18/01/2006. Nơi cư trú: 5 P, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

* Ngƣời có quyền, nghĩa vụ liên quan:

-Ông P, sinh năm 1968. Địa chỉ:Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Có mặt.

- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Vắng mặt.

- Ông Puih D2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Có mặt.

- Ông A, sinh năm 1959. Địa chỉ: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Vắng mặt.

- Bà H4, sinh năm 1960. Địa chỉ: Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Vắng mặt.

* Ngƣời phiên dịch tiếng Jrai: Ông Rmah V. Địa chỉ: Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắtnhư sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 31/12/2023, Rơ Chơm Lcùng A T2, Puih D1, T1đi đến khu vực đồi thông ở phường H, thành phố P, tỉnh Gia Laiđể uống rượu. Trong lúc uống rượu, cả nhóm thấy Vũ Đàm Phương T4, Trương Ngọc Á cùng bạn đang cắm trại tại đây. Trong quá trình cắm trại, Ásử dụng điện thoại hiệu Iphone XS và T4sử dụng điện thoại hiệu Iphone 13 để dùng đèn chiếu sáng. Thấy vậy, Lnảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của Ávà T4nên rủ T2, T1, D1cùng tham gia chiếm đoạt điện thoại, bán lấy tiền tiêu xài thì T2, T5, D1đều đồng ý,Lnói T1và T2đi xuống lấy xe chờ trước, Lvà D1sẽ đi giật điện thoại rồi sau đó chạy ra để T1và T2chở về thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, T5và T2đi đến vị trí đồi thông đã để xe trước đó, T1lên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (không xác định được biển số), T2lên xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 81B1-927.09 nổ máy chờ sẵn. Lúc này, Lvà D1đi bộ ra phía sau Ávà T4, lợi dụng lúc Ávà T4đang cầm điện thoại trên tay, không để ý, Lvà D1nhanh chóng đi đến,Ldùng tay giật điện thoại hiệu Iphone 13, màu xanh của T4, D1dùng tay giật điện thoại hiệu Iphone XS, màu vàng của Árồi cả hai nhanh chóng bỏ chạy ra xe để T2chở Lvà T1chở D1chạy thoát. Khi về đến làng I, phường C, thành phố P, Lđưa điện thoại hiệu Iphone 13 cho T1để đi bán, T5đồng ý.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, T1cầm theo điện thoại rồi đi tìm Ja L2ở tiệm Internet và nói mới nhặt được điện thoại, nhờ đi bán giúp thì Ja Lơ đồng ý. Ja Lơ mang điện thoại đến bán xác điện thoại cho tiệm điện thoại Gia H5, do chị Phạm Thị Nđược 500.000 đồng rồi mang đưa cho T1. Sau đó, T1, T2, D1, L3chia nhau số tiền 500.000 đồng, mỗi người được 100.000 đồng, Ja L2được cho 50.000 đồng, còn lại 50.000 đồng cả nhóm mua nước về uống.

Đến ngày 01/01/2024, D1và L3mang điện thoại hiệu Iphone XS đến tiệm Đ, địa chỉ H T, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Laido anh Lê Quang T6(sinh năm 1983, làm chủ) để sửa, sau đó Diêm nhờ Siu T7(sinh năm 2004, trú tại làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai) lấy điện thoại về giùm vì chưa có tiền trả, thì T7đồng ý. Ngày 02/01/2024, T7đến tiệm điện thoại của anh T6nói lấy lại điện thoại thì người chủ cửa hàng nói không mở được mật khẩu nên trả điện thoại lại cho T7, T7mang về. Cùng ngày, T7biết D1bị bắt và biết điện thoại này D1 phạm tội mà có nên đã ném vào rẫy cà phê (không xác định được địa điểm).

Ngày 02/01/2024, T1, A T2, Puih Diêm; ngày 03/01/2024,Rơ Chơm L, đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pđầu thú và khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Qua định giá, Tại Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: “01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, dung lượng 128GB mua vào năm 2021 với giá 25.000.000 đồng; giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 11.000.000 đồng. 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, mua vào năm 2023 với giá 6.500.000 đồng; giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 5.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.250.000 đồng”

Vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, dung lượng 128GB; sau khi mua điện thoại, chị Nkiểm tra và xạc pin thì thấy điện thoại lên nguồn. Chị Nmở điện thoại bằng mật khẩu 0000 thì mở được và thấy có số điện thoại lưu tên “Mẹ” nên chị Nđã gọi điện và thông báo điện thoại đang ở tiệm Đ1. Sau đó, bà Đàm Thị Như X(sinh năm 1977, là mẹ của Vũ Đàm Phương T4) đến chuộc lại chị Nvới số tiền 500.000 đồng.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, sau khi lấy điện thoại, T7biết điện thoại là do T1, Lphạm tôi mà có nên đã ném vào rẫy cà phê. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xanh, biển số 81B1-927.09 do A T2điều khiển. Qua điều tra, xác định: Đây là tài sản của ông P(là cha của bị can A T2) cho A T2mượn để làm phương tiện đi lại, sau đó A T2thực hiện hành vi phạm tội thì ông Pkhông biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku không tiến hành thu giữ những chiếc xe mô tô trên.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen T1sử dụng do Thăp mượn của H6(không xác định được biển số, nhân thân lai lịch của H6) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không làm việc được và không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự:Các bị cáoRơ Chơm L, T1, P, A T2đã tác động gia đình khắc phục số tiền 500.000 đồng cho bị hại Vũ Đàm Phương T4, số tiền 5.250.000 đồng cho bị hại Trương Thị Ngọc Á1, cụ thể: Lăi bồi thường số tiền 2.750.000 đồng, Puih D1, T1, A T2mỗi bị can bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Các bị hại Vũ Đàm Phương T4và Trương Thị Ngọc Á1không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Tại bản cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rơ Chơm Lăi, Puih Diêm, Thăp, A T2về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1 và A T2phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáoRơ Chơm Ltừ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng:Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 69/2024HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai, xử phạt bị cáo Rơ Chơm L 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Puih D1, T1từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 171; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo A T2từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng đến 02 năm.

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sựsơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 31/12/2023, tại khu vực đồi thông phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Rơ Chơm L, Puih D1, T1, A T2đã cùng nhau thực hiện hành vidùng tay giật điện thoại hiệu Iphone 13, màu xanh trị giá 11.000.000 đồng của Vũ Đàm Phương T4và giật chiếc điện thoại hiệu Iphone XS, màu vàng trị giá 5.250.000 đồng của Trương Ngọc Á1rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đến ngày 02/01/2024, A T2, Puih D1, T1ra đầu thú; ngày 03/01/2024,Rơ Chơm Lra đầu thúvà khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. [2] Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố:Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lờ i khai củabi ̣ ha ̣i

cùng các tài liê ̣u chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án . Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Laiđối với bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1, A T2về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017là có căn cứ,đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của phạm tội của các bị cáoRơ Chơm L, Puih D1, T1, A T2: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn.Các bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu tu chí lao động mà chỉ muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, khi thấy sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản là các bị cáo liền thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đối với bị cáo Rơ Chơm L là người khởi xướng và là người thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này. Ngoài ra tại Bản án số 69/2024HS-ST ngày 26/4/2024 bị cáo còn bị Tòa án nhân dân TP. Pleiku xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” cần áp dụng: Điều 56Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Đối với bị cáo Puih D1, T1, A T2: 03 bị cáo này đều cùng thực hiện hành vi phạm tội,bị cáo Puih D1, T1(Puih D1 trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật điện thoại, T5đứng ngoài chờ để lái xe chở đồng bọn tẩu thoát và T1mang điện thoại đi tiêu thụ).Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, nên cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm.

Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ:Thành khẩn khai báo; Bồi thường thiệt hại; Đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Puih D1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làgia đình có công với cách mạng.

Dù giảm nhẹ nhưng cần phải cách ly bị cáoRơ Chơm L,P, T1ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo được biện pháp răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.Riêng bị cáo A T2xét về tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ và bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo A T2 ra khỏi xã hội một thời gian mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Đối với chị Phạm Thị N và anh Lê Quang T6là những người đã mua và nhận sửa điện thoại, xác địnhchị Nvà anh T6đều không biết đó là tài sản do các bị cáo cướp giật mà có, nên không xử lý là đúng.

Đối với JLơ là người đã giúp bị cáoT1bánđiện thoại hiệu Iphone 13 do các bị cáo cướp giật của chị T4, xác định Ja L2 không biết đó là tài sản do các bị cáo phạm tộimà có, nên không xử lý là đúng.

Đối với Siu T7là người đã giúp bị cáoPuih D1đi lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS do các bị cáo cướp giật của chị Á1, xác địnhkhi đi lấy giùm Siu Thân không biết đó là tài sản do Puih D1cướp giật mà có, chỉ khi đi lấy điện thoại về Siu Thân mới biết D1ra đầu thú nên biếtđược chiếc điện thoại này do các bị cáophạm tội mà có nhưng Siu T7không đi tố giác mà ném chiếc điện thoại này vào rẫy cà phê. Tuy nhiên, theo quy định Điều 389 và Điều 390 của Bộ luật Hình sự không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với Siu T7là đúng.

Về trách nhiệm dân sự:Các bị cáo đã tác động gia đình khắc phục số tiền 500.000 đồng cho bị hại Vũ Đàm Phương T4, số tiền 5.250.000 đồng cho bị hại Trương Thị Ngọc Á1, cụ thể: Lăi bồi thường số tiền 2.750.000 đồng, Puih D1, T1, A T2mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự,nên không xét.

Vật chứng của vụ án: Không. [10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1 và A T2phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng:Khoản 1 Điều 171; Điều 38;Điều 50; điểmb, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:Bị cáoRơ Chơm L 01 năm 04 tháng tù.

Áp dụng:Điều 56Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 69/2024HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai, xử phạt bị cáo Rơ Chơm L03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Vậy bị cáoRơ Chơm L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là 04 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

Xử phạt: Bị cáo Puih D1 01 năm 01 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi những ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 28/02/2024.

Xử phạt: Bị cáo T1 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 171; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo A T2 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm.Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 26/6/2024.

Giao bị cáo A T2cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố P, tỉnh Gia Laigiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố P, tỉnh Gia Laigiám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụtheo quy địnhcủa Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định.

Buộc bị cáo Rơ Chơm L, Puih D1, T1 và A T2mỗi bị cáophải

chịu200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanvắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ