- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đăng Lg "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng Lg phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HSST Ngày: 25/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Đình Hoằng.
2. Bà Tô Thị Lành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2023/QĐST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Đăng Lg (Lg đểu), sinh năm 1993 tại Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TH 1, xã IH, huyện IG, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng V và bà Phạm Thị H; bị cáo chưa có vợ, có 01 con (sinh năm 2012); Tiền án: Không, Tiền sự: Ngày 31/10/2018, bị Tòa án nhân dân TP.P áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai, thời hạn 24 tháng (Quyết định số 28 ngày 31/10/2018). Quá trình chấp hành biện pháp cai nghiện, do bị cáo đã nhiễm HIV và có đơn đề nghị của gia đình, nên ngày 15/01/2020 Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy bàn giao bị caó cho gia đình quản lý, chữa bệnh, hiện bị cáo chưa chấp hành xong Quyết định số 28 ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân TP.P.
* Hoạt động bản thân:
- Ngày 14/9/2011, bị Ủy ban nhân dân huyện IG, tỉnh Gia Lai ra Quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Gia Lai, thời hạn 24 tháng (Quyết định số 1356/QĐ-UBND). Ngày 19/7/2012, khi đang chấp hành thời gian cai nghiện thì bỏ trốn.
- Ngày 14/12/2016, bị Toà án nhân dân hyện IG, tỉnh Gia Lai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” (theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Bản án số 38/2016/HSST; chấp hành án tại Trại giam Gia Trung, Bộ Công an. Ngày 24/12/2017, chấp hành xong hình phạt tù. Lần bị kết án này, bị can đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 28/12/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
Người bị hại:
- Ông Trần Nguyên V - sinh năm: 1968; Nơi cư trú: 188/54 ÂC, Tổ 5, phường TL, P, tỉnh Gia Lai. Có mặt;
- Bà Hoàng Thị L - sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Thôn 3, thị trấn Đ Đ, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt;
- Bà Đặng Thị Thùy Ng - sinh năm: 1968; Nơi cư trú: Thôn 1, xã TB, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Chị Dương Thị Tuyết V - sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Thôn 3, xã TB, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Chị Dương Thị Minh Tr - sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Thôn 3, xã TB, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Bà Huỳnh Thị Mỹ Ch - sinh năm: 1975; Nơi cư trú: Thôn 3, thị trấn Đ Đ, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Ông Hàn Đắc Ng - sinh năm: 1968; Nơi cư trú: Thôn 2, xã An Phú, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn IK, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987. Nơi cư trú: 302 HV, phường HT, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Anh Lê Đình Kh, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Làng Út I, xã IH, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt;
- Anh Trần Văn Lg, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Tổ 1, thị trấn IK, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Trần Văn H, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn 3, thị trấn Đ Đ, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đăng Lg là người đã bị kết án về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, nhưng đã được xóa án tích; bản thân Lg có sử dụng ma túy và đã 02 lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Trong khoảng thời gian từ ngày 15/9/2022 đến ngày 18/12/2022, Lg đã thực hiện 06 vụ lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thành phố P và huyện ĐĐ, tỉnh Gia Lai, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Sáng ngày 15/9/2022, Lê Đăng Lg điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 81B2-319.16 đi dạo trên địa bàn thành phố P để tìm cơ hội lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến trước nhà ông Trần Nguyên V (sinh năm 1968, ở số 188/54 đường Âu Cơ, Tổ 5, phường TL, thành phố P), Lg thấy cổng, cửa ra vào phía trước nhà mở nhưng không có người trông coi, nên dừng xe lại và đi vào trong để trộm cắp tài sản. Khi đi vào phòng khách, Lg thấy trên phản gỗ có để 01 nhẫn vàng 18K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S loại 32G vỏ màu đỏ, nên lén lút lấy các tài sản trên giấu vào túi quần, rồi quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát về huyện IG, tỉnh Gia Lai. Sau đó, Lg mang chiếc nhẫn vàng vừa chiếm đoạt được đến tiệm vàng Phương Dung (ở cổng chợ thị trấn IK, huyện IG) bán cho bà Lê Thị S (sinh năm 1975, trú Tổ 4, thị trấn IK, huyện IG - là chủ tiệm vàng) được 4.000.000 đồng sử dụng tiêu xài; còn điện thoại di động Oppo, Lg giữ lại để sử dụng và sau đó đã làm rơi mất. Quá trình điều tra, bà Sơn không thừa nhận có mua nhẫn vàng của Lg mang đến bán, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được; đối với điện thoại di động hiệu Oppo, do Lg không xác định được vị trí làm mất, nên Cơ quan điều tra cũng không thu hồi được. Quá trình điều tra vụ án, ông Văn khai nhẫn vàng của ông bị chiếm đoạt là vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ. Qua định giá, xác định nhẫn vàng và điện thoại di động của ông Văn bị Lg chiếm đoạt vào ngày 15/9/2022, có tổng trị giá 7.600.000 đồng
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 09/11/2022, Lê Đăng Lg điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Smash, biển số 81K2-8684 đi từ nhà ở huyện IG đến huyện ĐĐ, tỉnh Gia Lai để tìm cơ hội lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi đi đến trước nhà bà Hoàng Thị L (sinh năm 1971, ở Thôn 3, thị trấn ĐĐ, huyện ĐĐ), Lg thấy cửa nhà mở nhưng không có người trông coi, nên dừng xe lại và đi vào trong để trộm cắp tài sản. Khi đi vào phòng khách, Lg thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu hồng phấn đang cắm sạc pin để trên tủ dép, trong ốp lưng điện thoại có 107.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên lén lút lấy điện thoại giấu vào người rồi quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát về TP.P. Sau đó, Lg mang điện thoại vừa chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại Hoàn Thiện (số 302 đường HV, phường HT, thành phố P) bán cho ông Nguyễn Văn Q (sinh năm 1987, là chủ cửa hàng) được 1.000.000 đồng; tiền lấy trong ốp lưng điện thoại và tiền bán điện thoại mà có, Lg đã tiêu xài hết. Quá trình điều tra, ông Q không xác định được có mua điện thoại di động của Lg mang đến bán hay không, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P không thu giữ được. Qua định giá, xác định điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, vỏ màu hồng phấn của bà Lan bị Lg chiếm đoạt vào ngày 09/11/2022, có trị giá 1.200.000 đồng; tổng trị giá tài sản của Lan bị Lg chiếm đoạt là 1.307.000 đồng.
Vụ thứ ba: Với thủ đoạn như các lần trước, sáng ngày 09/12/2022 Lê Đăng Lg điều khiển xe mô tô 81K2-8684 đi từ huyện IG đến huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà bà Đặng Thị Thùy Ng (sinh năm 1986, ở Thôn 1, xã TB, huyện Đ Đ), Lg thấy cổng và cửa trước mở nhưng không có người trông coi, nên dừng xe đi vào để trộm cắp tài sản. Khi đi vào đến phòng ngủ nhà bà Ngân, Lg thấy có 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 9 (loại 4+128G) đang để trên giường, nên lén lút lấy điện thoại giấu vào người rồi quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Khi về đến TP.P, Lg mang điện thoại vừa chiếm đoạt được của bà Ngân đến cửa hàng điện thoại Hoàn Thiện bán cho ông Nguyễn Văn Q lấy tiền tiêu xài. Quá trình điều tra, ông Q không xác định được có mua điện thoại di động của Lg mang đến bán hay không, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P không thu giữ được. Qua định giá, xác định điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9 (4+128G) của bà Ngân bị Lg chiếm đoạt vào ngày 09/12/2022, có trị giá 2.790.000 đồng.
Vụ thứ tư: Sau khi chiếm đoạt điện thoại di động trong nhà bà Đặng Thị Thúy Ngân (ở vụ thứ ba), trên đường điều khiển xe mô tô 81K2-8684 tẩu thoát, Lê Đăng Lg thấy nhà của chị Dương Thị Tuyết V (sinh năm 1996, ở Thôn 3, xã TB, huyện ĐĐ) không đóng cổng và cửa trước, nên dừng xe đi vào để tiếp tục trộm cắp tài sản. Khi vào đến phòng khách, Lg thấy có 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 vỏ màu đen để trên ghế nên lén lút lấy điện thoại trên giấu vào người. Tiếp đó, Lg đi vào phòng ngủ và lén lút lấy 01 điện thoại hiệu Iphone X đang để trên đầu giường. Sau khi lấy trộm được 02 điện thoại trên, Lg quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát về TP.P (điện thoại Iphone X là của chị Vân, điện thoại di động hiệu Oppo F11 là của chị Dương Thị Minh Tr, sinh năm 1997, là em ruột chị Vân). Khi về đến TP.P, Lg mang các điện thoại trên cùng với điện thoại Xiaomi Redmi chiếm đoạt của bà Ngân ở vụ thứ ba, đến của hàng điện thoại Hoàn Thiện bán cho ông Nguyễn Văn Q được 2.000.000 đồng, sử dụng tiêu xài. Quá trình điều tra, ông Q không xác định được có mua điện thoại di động của Lg mang đến bán hay không, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P không thu giữ được. Qua định giá, xác định điện thoại di động hiệu Iphone X vỏ màu đen của chị V bị Lg chiếm đoạt ngày 09/12/2022, có trị giá 4.250.000 đồng; điện thoại di động hiệu Oppo F11 của chị Triều bị Lg chiếm đoạt ngày 09/12/2022, có trị giá 2.290.000 đồng.
Vụ thứ năm: Với thủ đoạn như các lần trước, sáng ngày 15/12/2022 Lê Đăng Lg điều khiển xe mô tô 81K2-8684 đi từ huyện IG đến huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà bà Huỳnh Thị Mỹ Ch (sinh năm 1975, ở Thôn 3, thị trấn ĐĐ, huyện ĐĐ), Lg thấy cửa phía trước mở nhưng không người trông coi, nên dừng xe đi vào để trộm cắp tài sản. Khi đi vào đến phòng ngủ, Lg thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1S đang để trên đầu giường, nên lén lút lấy giấu vào người, rồi quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát về TP.P. Sau đó, Lg mang điện thoại vừa chiếm đoạt được đến bán cho ông Nguyễn Văn Q được 400.000 đồng, sử dụng tiêu xài. Quá trình điều tra, ông Q không xác định được có mua điện thoại di động của Lg mang đến bán hay không, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P không thu giữ được. Qua định giá, xác định điện thoại di động hiệu Oppo F1S của bà Châu bị Lg chiếm đoạt vào ngày 15/12/2022, có trị giá 800.000 đồng.
Vụ thứ sáu: Với thủ đoạn như các lần trước, sáng ngày 18/12/2022 Lê Đăng Lg điều khiển xe mô tô 81K2-8684 đi dạo dọc theo QL19 từ TP.P đến huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà ông Hàn Đắc Ng (sinh năm 1968, ở Thôn 2, xã An Phú, TP.P), Lg thấy cửa mở nhưng không có người trông coi, nên dừng xe đi vào để trộm cắp tài sản. Khi đi vào đến phòng ngủ, Lg thấy có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 vỏ màu xanh đang để trên đầu giường, nên lén lút lấy giấu vào người, rồi quay ra điều khiển xe mô tô tẩu thoát về trung tâm TP.P. Đến 17 giờ cùng ngày, biết cơ quan Công an đang xác minh truy tìm mình và biết không thể tiếp tục che giấu hành vi của bản thân, Lg đến Công an xã Trà Đa, TP.P đầu thú, khai nhận về hành vi chiếm đoạt điện thoại di động tại nhà ông Ng và giao nộp lại điện thoại trên cùng với xe mô tô 81K2-8684. Qua định giá, xác định điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 vỏ màu xanh của ông Nông, bị Lg chiếm đoạt vào ngày 18/12/2022, có trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại điện thoại trên cho ông Ng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Lê Đăng Lg là người đã bị kết án về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, nhưng đã được xóa án tích; bản thân Lg có sử dụng ma túy. Với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người khác khi không đóng cổng, cửa nhà và không có người trông coi, trong thời gian từ ngày 15/9/2022 đến ngày 18/12/2022, Lg đã thực hiện 06 vụ đột nhập, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn TP.P và huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Tài sản Lg chiếm đoạt được gồm 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ, 07 điện thoại di động các loại và 107.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tổng trị giá tài sản Lg chiếm đoạt là 22.037.000 đồng. Đến ngày 18/12/2022, Lg ra đầu thú, giao nộp 01 điện thoại di động vừa chiếm đoạt được và xe mô tô là phương tiện đã sử dụng đi chiếm đoạt tài sản.
Tại Cáo trạng số 82/CTr-VKS ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38 và Điều 50; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Đăng Lg từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Qua trưng cầu giám định, tại các Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Qua định giá, xác định: gồm 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ, 07 điện thoại di động các loại và 107.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tổng trị giá tài sản Lg chiếm đoạt là 22.037.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận định giá tài sản số của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P.
Ý kiến của người tham gia tố tụng:
Những người bị hại:
- Ông Trần Nguyên V: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, yêu cầu bồi thường: 7.600.000 đồng;
- Bà Hoàng Thị L yêu cầu được bồi thường số tiền 1.307.000 đồng;
- Bà Đặng Thị Thùy Ng yêu cầu bồi thường số tiền 2.790.000 đồng;
- Chị Dương Thị Tuyết V yêu cầu bồi thường số tiền 4.250.000 đồng;
- Chị Dương Thị Minh Tr yêu cầu bồi thường số tiền 2.290.000 đồng;
- Bà Huỳnh Thị Mỹ Ch yêu cầu bồi thường số tiền 800.000 đồng.
- Ông Hàn Đắc Ng: đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Đăng Lg lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại đã lén lút chiếm đoạt tài sản: nhẫn vàng, điện thoại di động, tiền của người khác với tổng trị giá 22.037.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tài sản và quyền sở hữu hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đến tài sản của người khác đều phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật để không chỉ răn đe mà còn phòng ngừa chung đối với tội phạm.
Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo thì thấy rằng: Bản thân bị cáo có sức khỏe, đã từng bị kết án về tội phạm do cố ý, nhưng không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà lại liên tiếp phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự đời sống dân cư và an toàn xã hội; phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.
Tình tiết tặng nặng: Bị cáo nhiều lần trộm cắp thuộc trường hợp “phạm tội nhiều lần”quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có người thân: cha và ông nội là những người có công với Cách mạng là tình tiết giảm nhẹ và các quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cần được áp dụng để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tài sản và thu nhập, không phạt bổ sung.
Về dân sự: Những người bị hại bị chiếm đoạt tài sản yêu cầu bồi thường, cụ thể: Ông Trần Nguyên V yêu cầu bồi thường số tiền : 7.600.000 đồng; Bà Hoàng Thị L yêu cầu bồi thường số tiền 1.307.000 đồng; Bà Đặng Thị Thùy Ng yêu cầu bồi thường số tiền 2.790.000 đồng; Chị Dương Thị Tuyết V yêu cầu bồi thường số tiền 4.250.000 đồng; Chị Dương Thị Minh Tr yêu cầu bồi thường số tiền 2.290.000 đồng; Bà Huỳnh Thị Mỹ Ch yêu cầu bồi thường số tiền 800.000 đồng.
Số tiền các bị hại yêu cầu phù hợp với giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã được xác định giá, các yêu cầu này là có căn cứ, cần buộc bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.
Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 81B2-319.16, là phương tiện Lê Đăng Lg sử dụng đi trộm cắp tài sản là tài sản của Lg. Ngày 09/10/2022, Lg đã bán xe mô tô trên cho anh Trần Văn Lg. Sau khi mua xe mô tô trên, anh Trần Văn Lg đã bán lại cho người khác nhưng không biết họ tên, địa chỉ người mua, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, loại Smash, màu sơn đen, biển số 81K2-8684, số khung 060107170, số máy 447107172, là phương tiện Lê Đăng Lg sử dụng đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 09/11/2022, 09/12/2022, 15/12/2022 và 18/12/2022 (các vụ từ thứ hai đến thứ sáu), qua điều tra xác định là tài sản của ông Lê Đình Kh (sinh năm 1986, trú làng Út I, xã IH, huyện IG, tỉnh Gia Lai), là người quen của Lg. Ông Khánh cho Lg mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại và không biết gì về việc Lg sử dụng xe đi trộm cắp tài sản của người khác. Do vậy, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô 81K2-8684 cho ông Khánh là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng Lg phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Về điều luật áp dụng:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015;
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585 Bộ luật dân sự 2015
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đăng Lg 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2022.
4/ Các vấn đề khác:
- Về dân sự: Buộc bị cáo Lê Đăng Lg phải bồi thường cho những người bị hại, cụ thể:
- Bồi thường cho ông Trần Nguyên V số tiền 7.600.000 đồng;
- Bồi thường cho bà Hoàng Thị L số tiền 1.307.000 đồng;
- Bồi thường cho bà Đặng Thị Thùy Ng số tiền 2.790.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Dương Thị Tuyết V số tiền 4.250.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Dương Thị Minh Tr số tiền 2.290.000 đồng;
- Bồi thường cho bà Huỳnh Thị Mỹ Ch số tiền 800.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đăng Lg phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.102.000 đồng án phí dân sự về phần bồi thường.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người bị hại được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Công an thành phố P; - Chi cục THADS thành phố P; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - UBND xã IH, IG, Gia Lai; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Thu Hương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |