vanban.org

Bản án 118/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Thành C 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 24/3/2023. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 468, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Thành C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2023/HSST
Ngày: 27/9/2023
s

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Trần Trúc Mai

Ông Ngô Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn Thành C, sinh năm 1998 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ E phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Ngư dân; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị K; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt giam ngày 23/3/2023. Có mặt.

- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lê Văn Thành C: Luật sư Nguyễn Thị Kiều D, thuộc Đoàn Luật sư T2. Có mặt.

* Bị hại: Ông Bùi Thanh M, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Ngƣời làm chứng:

- Ông Dương Văn N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

- Ông Phan Văn T1, sinh năm ; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

- Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Ông Bùi D1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Ông Lê Thanh H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h00’ ngày 24.12.2022 tại khu vực bãi biển N thuộc P, Q. L, TP ., Lê Văn Thành C cùng với một số người dân tiến hành kéo thuyền thúng đang để dưới biển lên cao để tránh sóng đánh trôi. Trong lúc di chuyển, do thuyền thúng của ông Bùi Thanh M ở phía trên nên C cùng với những người khác khiêng thúng của ông M lên trước để thuận tiện việc khiêng các thúng khác. Lúc này, M đi ngang qua thấy vậy nên đi đến chửi nhóm C. Lúc này hai bên cãi nhau, C dùng tay đánh ông M nhưng được anh Dương Văn N can ngăn. Tức giận, M bỏ về nhà lấy 01 con dao cán màu vàng dài khoảng 20cm, 01 con dao cán màu đen dài khoảng 30cm quay ra đánh nhau với C. Khi ra lại bãi biển, M cầm con dao màu vàng còn để con dao màu đen trên xe, đầu đội nón bảo hiểm đi đến chỗ C thì được mọi người can ngăn và giật lấy con dao trên tay ông M, đưa ông M quay lại xe để về thì C nhặt một khúc gỗ dài khoản 20 cm ném về phía ông M nhưng không trúng và nói “ông về đi”. Lúc này, M quay lại xe lấy con dao màu đen đâm về phía C hai cái nhưng không trúng. Trong lúc Công lùi lại để né M thì thấy 01 khúc gỗ tròn dài khoảng 80cm nên lấy khúc gỗ đánh một cái từ trên xuống về phía Mạnh, M đưa tay trái lên đỡ thì cú đánh trúng vào cẳng tay trái, C tiếp tục đánh trúng mũ bảo hiểm ông M đang đội trên đầu làm nứt mũ bảo hiểm và xây xát da vùng đầu. Lúc này, mọi người thấy ông M bị thương nên can ngăn C và M đánh nhau, C thấy ông M chảy máu nên nói đưa ông M đi cấp cứu nhưng ông M không chịu nên C chở ông M về nhà. Ngày 05.01.2023, ông Bùi Thanh M đến Công an phường H trình báo nội dung sự việc.

Ngày 17.02.2023, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ban hành Kết luận giám định pháp y về thương tích số 239/KL-KTHS kết luận ông Bùi Thanh M bị: Sẹo vùng đỉnh dầu: 01%, sẹo mổ mặt trước ½ trên cẳng tay trái: 02%, sẹo mổ mặt trong ½ dưới cảng tay trái: 02%, gãy 2 xương cẳng tay trái: 12%. Tổng tỉ lệ thương tích là 16%.

* Vật chứng tạm giữ:

- 01 con dao cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, lưỡi rộng 1,5cm-Chuyển chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý

- 01 mũ bảo hiểm màu đen có logo ghi “ARMANI” bị vỡ: Cơ quan CSĐT Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu, chủ sỡ hữu đã nhận lại tài sản.

- Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video ghi hình ảnh ông Bùi Thanh M cầm dao trước khi xảy ra việc đánh nhau.

* Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Bùi Thanh M yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo Lê Văn Thành C đã bồi thường được số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Văn Thành C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn Thành C về tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung Cáo trạng truy tố. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn Thành C mức án từ 02 – 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, lưỡi rộng 1,5cm.

- Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video ghi hình ảnh ông Bùi Thanh M cầm dao trước khi xảy ra việc đánh nhau.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được Chi cục THADS quận L tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn Thành C đã bồi thường được số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), hiện bị hại ông Bùi Thanh M đề nghị bị cáo bồi thường thêm số tiền 20.000.000đ, trong đó: Chi phí điều trị là 8.626.000đ; Tiền tổn thất tinh thần là 11.374.000đ, bị cáo tự nguyện bồi thường nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn Thành Công k nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Người bị hại Bùi Thanh M đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo Lê Văn Thành C để có điều kiện cải tạo tốt, chăm sóc gia đình và con nhỏ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, c, e, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn Thành C: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14h00’ ngày 24.12.2022 tại khu vực bãi biển N thuộc P, Q. L, TP ., do có mâu thuẫn trong quá trình kéo thuyền thúng nên Lê Văn Thành C dùng hung khí nguy hiểm là 01 khúc gỗ tròn dài khoảng 80cm đánh một cái trúng vào tay và đầu của Bùi Thanh M gây thương tích với tỉ lệ tổn thương 16%.

Hành vi trên của bị cáo Lê Văn Thành C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, hành vi của bị cáo Lê Văn Thành C thì thấy: Do có mâu thuẫn trong quá trình kéo thuyền thúng, nên C và ông M có xô xát đánh nhau. Khi bị ông M cầm dao hù dọa đâm về phía mình 02 cái thì C đã nhặt 1 khúc gỗ đánh một cái trúng vào tay và đầu của ông M gây thương tích với tỉ lệ tổn thương 16%. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đối với bị cáo phải xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn Thành C thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, trong vụ án này người bị hại có một phần lỗi khi là người gây sự với bị cáo trước, bị hại cũng dùng dao đâm bị cáo; Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị caó. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn Thành C đề nghị áp dụng điểm c, e khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo là “Phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” và “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”, HĐXX xét thấy khi hai bên xảy ra xô xát cãi cọ thì bị cáo C là người dùng tay đánh ông M trước, sau đó ông M mới tức giận bỏ về lấy 02 con dao mang ra hù dọa bị cáo chứ không đâm. Lúc này sự việc đã dừng lại thì bị cáo tiếp tục nhặt 01 khúc gỗ quăng về phía ông M, đến lúc này ông M mới cầm dao đâm về phía bị cáo, bị cáo lùi lại cầm khúc gỗ đánh ông M 01 cái ngã ngồi xuống đất, bị cáo lại tiếp tục đánh thêm 01 cái nữa gây thương tích cho ông M. So về tương quan lực lượng và tuổi tác thì ông M đã gần 70 tuổi, bị cáo đang tuổi thanh niên trai tráng, hoàn toàn có thể chọn cách xử lý khác, việc bị cáo cố ý gây thương tích cho ông M không thuộc trường hợp quy định tại điểm c, e khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó HĐXX không chấp nhận đề nghị của Luật sư.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại ông Bùi Thanh M đề nghị bị cáo bồi thường tổng số tiền 50.000.000đ, tuy nhiên tại phiên tòa ông M chỉ đề nghị bồi thường số tiền 30.000.000đ; Hiện bị cáo đã bồi thường được 10.000.000đ, ông Bùi Thanh M đề nghị bị cáo bồi thường thêm số tiền 20.000.000đ, trong đó: Chi phí điều trị là 8.626.000đ; Tiền tổn thất tinh thần là 11.374.000đ. HĐXX xét thấy bị cáo tự nguyện bồi thường nên đề nghị chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, lưỡi rộng 1,5cm.

- Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video ghi hình ảnh ông Bùi Thanh M cầm dao trước khi xảy ra việc đánh nhau.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được Chi cục THADS quận L tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023.

. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Thành C phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Thành C 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 24/3/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 468, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.

Buộc bị cáo Lê Văn Thành C phải bồi thường cho bị hại Bùi Thanh M số tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, lưỡi rộng 1,5cm.

- Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video ghi hình ảnh ông Bùi Thanh M cầm dao trước khi xảy ra việc đánh nhau.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được Chi cục THADS quận L tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn Thành C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 1.000.000đ (Một triệu đồng) án phí DSST.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ