- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim Y đối với ông Nguyễn Ngọc T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng
Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 68/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim Y, sinh năm 1987; trú tại: Tổ X, khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982; trú tại: Tổ X, khu phố B phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Bà Y và ông T tự nguyện kết hôn và đã được Uỷ ban nhân dân xã M, huyện T (nay là phường M, thị xã P), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 160 vào ngày 26-9-2005.
Sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng phát đồng quan điểm nên thường xuyên cải nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã không còn sống chung với nhau đã 01 năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Y yêu cầu ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng bà Y, ông T có 02 (một) con chung là Nguyễn Võ T Thiện T, sinh ngày 14-02-2004 đã trưởng thành và Nguyễn Võ Tấn P, sinh ngày 03-10-2009. Hiện tại con chung Nguyễn Võ Tấn P do ông T nuôi dưỡng nên bà Y yêu cầu giao cháu P cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và bà Y không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông T thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, và các văn bản tố tụng khác, nhưng ông T không tham gia làm việc, hoà giải, không cung cấp tài liệu chứng cứ đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bà Y xác định mâu thuẫn vợ chồng bà Y, ông T là có thật. Xét mâu thuẫn vợ chồng bà Y, ông T đã đến mức trầm trọng, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Y.
Về con chung: con chung của bà Y, ông T hiện tại được ông T nuôi dưỡng do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên bà Y không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bà Võ Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng.
Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Nội dung giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Võ Thị Kim Y, ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Uỷ ban nhân dân xã M, huyện T (nay là phường M, thị xã P), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 160 vào ngày 26-9-2005 đúng quy định. Do đó hôn nhân của bà Y, ông T là hợp pháp.
Theo bà Y xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cải nhau và đã không còn sống chung 01 năm. Xét lời khai của bà Y tuy chỉ một phía, nhưng quá trình giải quyết vụ án ông T không tham hoà giải để đoàn tụ vợ chồng, đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng bà Y, ông T là có thật và mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Y, cho bà Y được ly hôn với ông T là phù hợp.
Về con chung: Bà Võ Thị Kim Y, ông Nguyễn Ngọc T có hai con chung Nguyễn Võ T Thiện T, sinh ngày 14-02-2004 và Nguyễn Võ Tấn P, sinh ngày 03-10-2009. Xét yêu cầu của bà Y về giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng thì thấy: hiện tại con chung do ông T trực tiếp nuôi dưỡng, phát triển bình thường, đồng thời cháu P có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha, nên cần tiếp tục giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung. Do đó, yêu cầu của bà Y về việc giao con chung cho T trực tiếp nuôi dưỡng được chấp nhận. Ông T không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nên bà Y không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y, ông T không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bà Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bà Y, ông T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban thượng vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim Y đối với ông Nguyễn Ngọc T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim Y được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
- Về con chung: Bà Võ Thị Kim Y, ông Nguyễn Ngọc T có 02 (hai) con chung Nguyễn Võ T Thiện T, sinh ngày 14-02-2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Võ Tấn P, sinh ngày 03-10-2009.
Giao con chung Nguyễn Võ Tấn P cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Võ Thị Kim Y không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Võ Thị Kim Y có quyền và nghĩa vụ thăm, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích mọi mặt của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết
2. Án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Kim Y phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Y đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007160 ngày 31 tháng 5 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, bà Y đã nộp đủ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - UBND phường Mỹ Xuân; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thanh Trà HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Trà |