- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ - ST Ngày: 7/7/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Tự
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Ngày 7 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diễm H, sinh năm: 1994; Địa chỉ: ấp Hòa H, xã Hòa L, huyện G, tỉnh K (vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: ấp Tân L, xã Hòa M, huyện P, tỉnh H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 4/4/2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Diễm H trình bày:
Chị H và anh Nguyễn Thanh T làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2012, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Chị H và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Chị H và anh T cũng đã chính thức ly thân từ năm 2017 đến nay, trong suốt quá trình ly thân vẫn không hàn gắn đoàn tụ được.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014.
Về tài sản chung; về nợ chung: Không có
Nay chị Hương yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng; Về con chung: Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014 chị H đồng ý để anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Thanh T có tờ tường trình ngày 27/4/2023 và có xác nhận của địa phương với nội dung như sau:
Anh T và chị Nguyễn Diễm H chung sống có 01 con chung là Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014; về tài sản chung và nợ chung: không có; Vào tháng 10/2017 chị H tự ý bỏ đi, để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ năm 2017 đến nay.
Nay chị H yêu cầu ly hôn anh T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Diễm H có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Thanh T chung sống và làm lễ cưới năm 2012, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không thật sự tin yêu, quan tâm chăm sóc cho nhau, dẫn đến mất hạnh phúc gia đình và đã chính thức ly thân từ năm 2017, trong suốt quá trình ly thân chị H và anh T cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án chị H kiên quyết xin ly hôn, anh T cũng không đến Tòa án để được hòa giải đoàn tụ. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp. nhưng vì chị H và anh T không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về con chung: anh Nguyễn Thanh T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014, xét thấy từ khi anh chị ly thân đến nay cháu Tú T được anh T chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, cháu Tú T cũng có nguyện vọng được sống chung với anh T và chị H cũng không tranh chấp nuôi con. Vì vậy xét về điều kiện mọi mặt nhằm bảo đảm quyền lợi và môi trường sống cho cháu Tú T, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do anh T không yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị H, không ai được cản trở.
Về tài sản chung; Về nợ chung: đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14, 15, 51, 53, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.
Về con chung: anh Nguyễn Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày: 19/6/2014, chị Nguyễn Diễm H chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do anh T không yêu cầu. Dành quyền tới lui thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị H, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Thanh T có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Diễm H phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002925 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND h. Phụng Hiệp; - THA h. Phụng Hiệp; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Tiến Dũng |