- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Hải Yến-Phạm Văn Hiếu"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hải Y.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 8 - 2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Tiên
Bà Lê Thị Bích Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hải Y., sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Đăk Hà Đông, xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn H., sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Phước Bắc, xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các phiên hòa giải, nguyên đơn bà Bùi Thị Hải Y. trình bày: Bà Y. với ông H. tự nguyện tìm hiểu, xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2021. Nay bà Y. thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Y. làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng bà Y. có 01 con chung, tên là Phạm Văn Nhất T., sinh ngày 30-6-2017. Khi ly hôn, bà Y. có nguyện vọng giao con chung Phạm Văn Nhất T. cho ông H. nuôi đến tuổi thành niên, bà Y. không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Theo bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt của bị đơn ông Phạm Văn H. trình bày:
Về hôn nhân: Ông H. khai vợ chồng tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, ông H. thống nhất ly hôn với bà Y.
Về nuôi con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung, tên là Phạm Văn Nhất T., sinh ngày 30-6-2017, hiện nay đang ở với ông H.; nếu ly hôn, ông có nguyện vọng nuôi con đến khi trưởng thành và không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng; nguyên đơn, bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hải Y.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho bà Bùi Thị Hải Y. và ông Phạm Văn H. ly hôn; Về nuôi con chung: Căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Phạm Văn Nhất T., sinh ngày 30-6-2017 cho ông H. nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: bà Y. không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản chung, nợ chung: Các bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trông tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: bà Bùi Thị Hải Y. yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Văn H. có địa chỉ thường trú tại Thôn Phước Bắc, xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn Bùi Thị Hải Y. và bị đơn Phạm Văn H. đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hải Y. và ông Phạm Văn H. tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại tại Uỷ ban nhân dân xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2017, là hôn nhân hợp pháp. Bà Y. cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc và vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2021. Ông H. cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, không còn tình cảm và ông H. đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Y. Các bên đều không mong muốn hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Y. và ông H. thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Y. yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H. là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà Y. và ông H. có 01 con chung là Phạm Văn Nhất T., sinh ngày 30-6-2017. Nguyện vọng bà Y. khi ly hôn là giao cháu T. cho ông H. nuôi đến tuổi thành niên, bà Y. không cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H. có nguyện vọng nuôi con đến khi trưởng thành và không yêu cầu bà Y. cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu T. đang sống với ông H. ổn định, phát triển tốt và ông H. cũng có nguyện vọng được nuôi con. Vì vậy, giao cháu T. cho ông H. trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của con, phù hợp với quy định của pháp luật. Ông H. không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Y. và ông H. đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Bùi Thị Hải Y. là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội khoá XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hải Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hải Y. và ông Phạm Văn H. ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Phạm Văn Nhất T., sinh ngày 30-6-2017 cho ông H. trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Bà Bùi Thị Hải Y. phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Y. đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010698 ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Bà Y. đã nộp xong tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Các đương sự; - UBND xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Phú Ninh; - Chi cục THADS huyện Phú Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Văn Long |