- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị K - Danh É về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị K được ly hôn với anh Danh É.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2023 “V/v Tranh chấp về Ly hôn và yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Ông Danh Út Nhỏ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 418/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14/10/2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị K, sinh năm 1992, (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Danh É, sinh năm 1989, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 16/8/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thị K trình bày:
Vào năm 2009, chị kết hôn cùng với anh Danh É, hôn nhân do mai mối, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và sau đó vợ chồng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật vào ngày 24/02/2012.
Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc với nhau khoảng hơn 04 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh É thường xuyên uống rượu rồi về nhà kiếm chuyện mắng chửi hành hạ đánh đập vợ con. Anh É đánh chị rất nhiều lần, lần nặng nhất là đánh chị bể đầu may 9 mũi, chị có báo công an xã Đ giữ anh É hết 1 đêm, nhưng sau đó anh É vẫn không thay đổi, vẫn tiếp tục mắng chửi đánh đập chị. Do anh Danh É bạo lực gia đình quá mức chị không thể chịu được nửa nên chị bỏ đi và vợ chồng ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay. Từ ngày ly thân đến nay chị và anh É không có liên lạc gì với nhau nên không hòa giải được mâu thuẫn. Nay, chị xét thấy giữa chị và anh É không thể nào hàn gắn với nhau được nửa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh É, để giải thoát cho bản thân.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là Danh Hoàng H – sinh ngày 15/5/2010 và Danh Thị Ngọc V – sinh ngày 27/3/2013, con chung hiện nay đang sống cùng chị.
Tài sản chung, nợ chung: Chị K xác định vợ chồng chị không có tài sản chung và cam kết vợ chồng cũng không có thiếu nợ ai.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Danh É; Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con 02 chung là Danh Hoàng H – sinh ngày 15/5/2010 và Danh Thị Ngọc V – sinh ngày 27/3/2013, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung, nợ chung: Chị K xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng cũng không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Danh É không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh É nhưng anh không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận cho chị Thị K được ly hôn với anh Danh É; Về con chung: Giao con chung tên Danh Hoàng H – sinh ngày 15/5/2010 và Danh Thị Ngọc V – sinh ngày 27/3/2013 cho chị Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận việc chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không có và chị K không yêu cầu nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên chị Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D Ét được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Bộ luật BLTTDS 2015).
Anh Danh É với tư cách là bị đơn trong vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, anh É không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc khác, anh Danh É đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh É.
Về hôn nhân: Chị Thị K và anh D Ét xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2009, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 24/02/2012, theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị chị Thị K xin được ly hôn với anh Danh É vì lý do anh É không tu chỉnh làm ăn, lại hay uống rượu, mỗi lần uống rượu về kiếm chuyện mắng chửi chị và còn thường xuyên bạo lực gia đình đối với chị. Do không thể chịu đựng được cuộc sống hôn nhân như vậy nên chị đã bỏ đi và vợ chồng sống ly thân với nhau từ đầu năm 2015 cho đến nay.
Đối với anh Danh É, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh É đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Còn chị K khai rõ trong suốt thời gian ly thân, vợ chồng chị không hòa giải được với nhau, bản thân chị thì không còn tình cảm gì với anh É và tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh É. HĐXX thấy rằng, chị K và anh É đã không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc; thời gian anh chị sống ly thân là để cả hai có thời gian cùng nhau nhìn lại những gì đã trãi qua nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K là phù hợp.
Về con chung: Chị Thị K xác định vợ chồng chị có 02 con chung tên Danh Hoàng H – sinh ngày 15/5/2010 và Danh Thị Ngọc V – sinh ngày 27/3/2013. Hai cháu hiện nay đang sống cùng chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi; cháu H và cháu V cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng chị K. Xét yêu cầu trên là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp theo nguyện vọng của cháu cháu H và cháu V. Do đó, HĐXX xem xét ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Thị K xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Do anh Danh É không có ý kiến tại Tòa về vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung; nếu sau này có phát sinh tranh chấp về các vấn đề trên thì anh É có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Về án phí: Án phí ly hôn là 300.000đ chị K phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị K được ly hôn với anh Danh É.
2. Về con chung: Giao con chung tên Danh Hoàng H – sinh ngày 15/5/2010 và Danh Thị Ngọc V – sinh ngày 27/3/2013 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh Danh É không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này.
Khi cần thiết anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
4. Về án phí: Chị Thị K phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001731, ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/9/2023.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Nhập |