vanban.org

Bản án 118/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn Phước Đ, buộc bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) phải có nghĩa vụ liên đới trả ông Trần Văn Phước Đ số tiền là 111.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật D… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn Phước Đ, buộc bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) phải có nghĩa vụ liên đới trả ông Trần Văn Phước Đ số tiền là 111.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2023/DS-ST
Ngày 30 tháng 6 năm 2023
“V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nga, ông Võ Thanh Nhàn;

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 2 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 378/2023/QĐST- DS ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Phước Đ (Kiều Tư H), sinh năm 1967; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;

2. Bị đơn: Bà Lê Diệu L, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T (3 T1), sinh năm 1975; địa chỉ ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn Phước Đ, trình bày, ông tham gia 03 dây hụi, do bà L làm chủ hụi: dây thứ nhất: 2.000.000 đồng/tháng, với 38 hụi viên, khởi khui 30/01/2019 âm lịch, chầu hụi bắt đầu ngày 01/02/2019 âm lịch, tham gia 01 chân hụi, thỏa thuận 1.000.000 đồng tiền hoa hồng khi nào hốt hụi, đã chầu 37 lần (hụi sống), tổng số tiền đã chầu là 58.130.000 đồng. Dây hụi thứ 2: hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 15/8/2020 âm lịch, khui lần đầu ngày 15/8/2020 âm lịch, có 37 hụi viên, tiền hoa hồng là 1.000.000 đồng khi hụi viên hốt hụi, tham gia 01 chân hụi, đã chầu được 19 lần, tổng số tiền đã chầu là 26.660.000 đồng. Dây thứ 3: Hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 15/8/2020 âm lịch, khui lần đầu ngày 15/8/2020 âm lịch, có 37 hụi viên, tiền hoa hồng là 1.000.000 đồng khi hụi viên hốt hụi, tham gia 01 chân hụi, đã chầu được 19 lần, tổng số tiền đã chầu là 26.660.000 đồng. Tổng số tiền của ba dây là 111.450.000 đồng.

Ông Trần Văn Phước Đ (Kiều Tư H) yêu cầu bà Lê Thị Diệu L1, ông Lê Văn T liên đới trả cho ông số tiền hụi còn nợ là 111.450.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn Lê Diệu L1 trình bày: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà L1 thống nhất với lời trình bày của ông Đ, về các dây hụi, số tiền còn nợ hụi, thống nhất tổng số tiền còn nợ của bà dây hụi là 111.450.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Ông Trần Văn Phước Đ trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình, không thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, ông Đ cũng xác định trong thời gian chầu hụi, ông T nhiều lần trực tiếp thu hụi của bà thay cho bà L1.

- Bà Lê Diệu L1 xác định các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã công khai là đúng, công nhận số tiền nợ hụi, không có tài liệu chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án, cũng như không có yêu cầu khác để chứng minh cho quyền, nghĩa vụ của mình, tại phiên tòa bà L1 thừa nhận đến nay còn nợ ông Đ số tiền hụi như ông Đ đã trình bày, cũng như xác định việc ông T biết bà là chủ hụi, cũng như thực hiện thu hụi giúp bà tại các dây hụi.

- Ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt lần thứ 2, nên đề nghị xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Phước Đ; buộc bà Lê Diệu L1 và ông Lê Văn T liên đới trả ông Trần Văn Phước Đ 111.450.000 đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân sự xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Trần Văn Phước Đ và bà Lê Diệu L1 hiện đang cư trú trên địa bàn huyện C, giữa ông Đ, bà L1 có quan hệ góp hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung: [2.1] Xác định tiền hụi: giữa ông Trần Văn Phước Đ và bà Lê Diệu L1 có quan hệ góp hụi (họ) theo đó bà L1 là chủ hụi, ông Đ là hụi viên. Quá trình giải quyết vụ án cả ông Đ và bà L1 đều thống nhất việc ông Đ có tham gia dây 03 dây hụi như ông Đ đã trình bày, thống nhất về số tiền mà ông Đ đã chầu hụi cho bà L1 với số tiền 111.450.000 đồng. Như vậy, việc ông Đ, bà L1 đều công nhận việc chầu hụi, khui hụi, số lần chầu, số tiền còn nợ nên đây là tài liệu, chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, thì người có nghĩa vụ, chủ hụi phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn thiếu cho hụi viên, nên việc bà L1 thừa nhận còn nợ tiền hụi của ông Đ; cho nên bà L1 phải có nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại các Điều 351, 352, 357 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, việc cả ông Đ, bà L1 đều thống nhất về phương thức chơi hụi, thời gian đóng hụi, hốt hụi, chầu hụi và số tiền nợ hụi theo tài liệu, chứng cứ mà ông Đ đã cung cấp. Vì vậy, việc ông Đ khởi kiện là có cơ sở xem xét.

Về trách nhiệm liên đới: Theo quy định tại Điều 25, 27 và Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, bà L1 tại phiên tòa công nhận việc ông T biết bà là chủ hụi, sử dụng tiền lời hụi (hoa hồng) vào mục đích kinh tế gia đình, cho nên việc ông Đ, cùng bà L1 đều xác nhận việc ông T biết việc bà L1 là chủ hụi, ông T cũng có thực hiện việc thu hụi. Vì vậy, việc ông Đ yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đới là có căn cứ; nên ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L1 theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình. Hơn nữa, giữa ông T với bà L1 có đăng ký kết hôn từ năm 2002, ông T trong quá trình tố tụng đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng ông không có ý kiến, có nghĩa ông đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc buộc bà bà L1, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền 111.450.000 đồng (một trăm mười một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Phước Đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được lại tiền tạm ứng án phí đã nộp;

- Bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí tương ứng với số tiền mà ông Đ được chấp nhận theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 288, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 25, 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn Phước Đ, buộc bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) phải có nghĩa vụ liên đới trả ông Trần Văn Phước Đ số tiền là 111.450.000 đồng (một trăm mười một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm:

- Ông Trần Văn Phước Đ được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp với số tiền 2.786.000 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tam ứng án, lệ phí Tòa án số 0013236 ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;

- Bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 5.572.500 đồng (năm triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm đồng), bà L1, ông T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ