vanban.org

Bản án 118/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 30/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 118/2023/DS-PT

Ngày: 30/03/2023

V/v “Tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ & thuê QSDĐ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc Các Thẩm phán: 1/- Ông Phạm Văn Bình. 2/- Bà Hà Thị Phương Thanh. - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Huỳnh Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên. Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2022/TLPT-DS ngày 30/12/2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2022/DSST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2023/QĐ-PT ngày 28/02/2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Anh Lê Thái C. sinh năm: 1979. Chị Lê Thị D. sinh năm: 1980. Địa chỉ: Hẻm 146, đường H, khu vực 4, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L. sinh năm: 1956. Địa chỉ: ấp Trường T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị Kiều T. sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp Nhơn H, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 13/3/2023). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Anh Đặng Văn D1. sinh năm: 1978. Địa chỉ: Nguyễn Văn C, khu vực 2, phường An K, quận N, thành phố Cần Thơ. - Bà Trương Thị M. sinh năm: 1960. - Anh Nguyễn Thanh H. sinh năm: 1979. - Anh Nguyễn Bá P. sinh năm: 1982. - Chị Nguyễn Thị Thanh T1. sinh năm: 1986. - Anh Nguyễn Bá T2. sinh năm: 1989. Cùng địa chỉ bị đơn; Bà M, chị T1, anh T2 cùng ủy quyền cho anh Nguyễn Thanh H (văn bản ủy quyền ngày 24/6/2019). - Văn phòng Công chứng Lê Tấn Q. Địa chỉ: Phan Văn T, KDCTM huyện P, thị trấn P, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Chí Tr. sinh năm: 1968. Địa chỉ: Nguyễn Văn L, khu vực 6, phường An K, quận N, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 28/4/2020). 4. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Lê Thái C, chị Lê Thị D. NI DUNG V ÁN: * Nguyên đn anh Lê Thái C, ch Lê Th D thông qua ngi đi din theo y quyn trình bày: Ngày 13/7/2016 nguyên đơn ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 493+1028, 790, 692+713, diện tích 8.856m2 ; giấy chứng nhận QSDĐ do anh Đặng Văn D1 đứng tên với giá 1,1 tỷ đồng, đã thanh toán xong và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS2332, CS2333, CS2334. Ngày 26/7/2016 nguyên đơn ký hợp đồng cho ông Nguyễn Thanh L thuê toàn bộ đất này với giá 20.500.000đ/tháng, thời hạn 02 năm. Từ đó đến nay ông L không trả tiền thuê đất, cũng không trả lại đất. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông L trả tiền thuê đất từ ngày 26/7/2016 đến khi xét xử sơ thẩm và lãi chậm trả từ ngày 05/9/2016. Đồng thời ông L và gia đình phải di dời để giao trả lại các thửa đất đã thuê theo đo đạc thực tế là 8.906,4m2 . * B đn ông Nguyn Thanh L thông qua người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 4/2016 ông có ký tên cho con là Nguyễn Bá P vay tiền Ngân hàng, bằng cách cho anh Đặng Văn D1 mượn giấy chứng nhận QSDĐ ông đứng tên để anh D1 làm thủ tục vay dùm. Ông không biết số tiền vay bao nhiêu, cũng không nhận tiền, không biết việc sang tên giấy chứng nhận QSDĐ cho anh C, cũng không có ký hợp đồng thuê đất nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Bị đơn phản tố yêu cầu hủy 03 giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp ngày 26/4/2016, chỉnh lý sang tên cho nguyên đơn ngày 19/7/2016; tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2016 giữa ông với anh D1, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 13/7/2016 giữa anh D1 với nguyên đơn, hợp đồng thuê QSDĐ ngày 26/7/2016 giữa ông với nguyên đơn vô hiệu. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Bà Trương Thị M, anh Nguyễn Thanh H, chị Nguyễn Thị Thanh T1, anh Nguyễn Bá T2 thống nhất ý kiến của bị đơn. + Anh Nguyễn Bá P trình bày: tháng 4/2016 anh nhờ anh Đặng Văn D1 đứng tên vay tiền Ngân hàng, anh D1 đồng ý với điều kiện cho D1 “vay ké” 250 triệu. Khi tiến hành làm thủ tục vay, anh đưa cha anh là ông L ký tên để vay, ông L không biết sang tên giấy chứng nhận QSDĐ cho anh D1. Sau đó, anh muốn lấy lại số tiền 250 triệu từ anh D1 nên anh nói với nguyên đơn đứng tên vay số tiền 1,1 tỷ. Anh C đồng ý và đã nhận sang tên giấy chứng nhận QSDĐ từ anh D1 để thế chấp vay Ngân hàng TMCP Quân Đội. Anh đã trả lãi, nợ gốc cho anh C số tiền 20.500.000đ. Đối với hợp đồng thuê QSDĐ là do anh “ký nhái”, ông L không biết. Anh đồng ý trả 1,1 tỷ cho Ngân hàng để anh C làm thủ tục sang tên lại cho ông L. + Anh Đặng Văn D1 trình bày: tháng 4/2016 anh thỏa thuận với anh P đưa giấy chứng nhận QSDĐ cho anh để anh đứng tên vay Ngân hàng dùm 01 tỷ, trong đó anh nhận 250 triệu, anh P 750 triệu, thời hạn 20 năm, mỗi người chịu trách nhiệm trả số tiền đã nhận. Nhưng đến ngày đóng tiền lãi cho Ngân hàng thì anh P không đóng, đến tháng thứ 3 anh P nói bán đất lại cho anh C, nên anh đồng ý ký tên chuyển nhượng lại và không còn trách nhiệm gì đối với phần đất này. Đối với thỏa thuận giữa anh C và anh P thì anh không biết, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh. + Ngân hàng TMCP Quân Đội trình bày: ngày 22/7/2016 nguyên đơn ký kết hợp đồng vay của Ngân hàng số tiền 700 triệu, mục đích vay để bổ sung vốn mua đất, thời hạn 10 năm, lãi suất 9,7%/năm. Tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất thửa 493+1028, 692+713, 790, tờ bản đồ số 03, diện tích 8.856m2 . Do nguyên đơn không trả nợ theo hợp đồng nên Ngân hàng có yêu cầu độc lập buộc nguyên đơn trả số tiền 634.251.506đ gồm nợ gốc 553.944.158đ và nợ lãi tính đến ngày 01/10/2019 là 80.307.348đ và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng. Trường hợp không trả được nợ thì tài sản bảo đảm được phát mãi để thu hồi nợ, nếu vẫn không đủ thì vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Tuy nhiên sau đó cấp sơ thẩm đã tách yêu cầu độc lập của Ngân hàng thành vụ án riêng và Ngân hàng cũng đã có đơn rút yêu cầu độc lập vì đương sự đã trả nợ xong. + Văn phòng Công chứng Lê Tấn Q trình bày: ngày 14/4/2016 VPCC Thành Công (nay là VPCC Lê Tấn Quyền) đã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh Đặng Văn D1 và ông Nguyễn Thanh L đúng theo quy định của Luật Công chứng; VPCC Lê Tấn Q không có ý kiến gì trong vụ tranh chấp này. V vic hòa gii không thành nên Tòa án nhân dân huyn Phong Đin đa ra xét x; ti Bn án s thm s: 45/2022/DS-ST ngày 19/9/2022 đã tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2016 giữa ông Nguyễn Thanh L với ông Đặng Văn D1 vô hiệu; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/7/2016 giữa ông Đặng Văn D1 với ông Lê Thái C, bà Lê Thị D vô hiệu; hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 26/7/2016 giữa ông Lê Thái C, bà Lê Thị D với ông Nguyễn Thanh L vô hiệu. Buộc ông Lê Thái C, bà Lê Thị D có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS2332, CS2333, CS2334 cấp ngày 26/4/2016, chỉnh lý sang tên cho ông Chân, bà Diễm ngày 19/7/2016 đối với diện tích 8.906,4m2 , thửa 493, 1028, 692, 713, 790, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp Trường T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ lại cho ông Nguyễn Thanh L. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 05, 06/TTKTTNMT ngày 13/01/2021 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ). Buộc ông Nguyễn Bá P có nghĩa vụ trả cho ông Lê Thái C, bà Lê Thị D số tiền 1.100.000.000đ. Ngoài ra bn án còn tuyên v lãi chm thc hin nghĩa v, án phí, các chi phí t tng khác và quyn kháng cáo ca đng s. Ngày 29/9/2022 nguyên đn kháng cáo yêu cu phúc thm sa án s thm theo hng chp nhn toàn b yêu cu khi kin. Ti phiên tòa phúc thm, ngi có kháng cáo xác đnh vn gi nguyên yêu cu kháng cáo. B đn vn gi ý kin và yêu cu nh cp s thm. Kim sát viên phúc thm phát biu ý kin: v t tng Tòa án và các đng s đã thc hin đúng quy đnh; V ni dung: mc dù hp đng chuyn nhng quyn s dng đt gia các bên thc hin hp pháp và nguyên đn cũng đã đc cp giy chng nhn QSDĐ. Tuy nhiên, hp đng có du hiu b la di, trên đt còn có căn nhà và 03 ngôi m ca bên th ba là có đi tng không th thc hin đc. Án s thm tuyên vô hiu hp các hp đng là có căn c. Đ ngh bác kháng cáo ca nguyên đn. Tuy nhiên có sa án phn án phí ca ngi liên quan và ca nguyên đn phn không giá ngch theo đúng quy đnh. Căn c vào tài liu, chng c đã đc xem xét ti phiên tòa, kt qu tranh tng ti phiên tòa. NHN ĐNH CA TÒA ÁN * V th tc t tng: [1] Nguyên đn khi kin yêu cu chm dt hp đng thuê đt, buc b đn phi tr tin thuê đt, tr li đt đã thuê và công nhn đc quyn s dng các tha đt đã nhn chuyn nhng hp pháp; B đn phn t yêu cu tuyên b vô hiu các hp đng chuyn nhng, hp đng thuê quyn s dng đt và hy các giy đt đã cp cho nguyên đn; Ngân hàng TMCP Quân Đội có yêu cầu độc lập buộc nguyên đơn trả số nợ vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng, trường hợp không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Cp s thm th lý, gii quyt theo quan h “Tranh chp hp đng chuyn nhng, hp đng thuê quyn s dng đt và hp đng tín dng” theo Điu 26 B lut t tng dân s là có căn c. Tuy nhiên, li tách yêu cu đc lp đòi n theo hp đng tín dng ca Ngân hàng đ gii quyt thành v án đc lp là sai t tng. Bi l v án đã đc đa ra xét x, trng hp Ngân hàng rút yêu cu đc lp thì phi đình ch xét x phn yêu cu đc lp trong bn án này. Do Ngân hàng đã thu hi n xong và không có khiu ni gì, xét sai sót này không nh hng đn vic gii quyt, x lý tài sn th chp nên ch nêu lên đ rút kinh nghim đi vi cp s thm. Nhng ngi liên quan trong v án vng mt, nhng không nh hng đn vic gii quyt kháng cáo theo quy đnh ti khoản 2 Điều 294 Bộ luật tố tụng dân sự, nên phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo quy định. * V ni dung: Sau khi xét x s thm, nguyên đn có kháng cáo. Xét kháng cáo thy rng: [2] Về hợp đồng CNQSDĐ giữa ông L với anh D1: mặc dù theo Kết luận giám định của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định chữ ký, chữ viết trên các hợp đồng CNQSDĐ ngày 14/4/2016, hợp đồng thuê QSDĐ ngày 26/7/2016 đều do ông L ký tên. Tuy nhiên, theo anh D1 trình bày thực chất chỉ là để anh đứng ra vay tiền Ngân hàng dùm anh P chứ không có thật việc chuyển nhượng. Phương thức thực hiện là anh P nói dối với ông L ký tên để anh vay Ngân hàng, ông L tin tưởng con mình nên đã ký vào hợp đồng CNQSDĐ thật mang tên ông L chuyển nhượng cho anh D1 và sau khi anh D1 đứng tên giấy đất, mang thế chấp Ngân hàng vay tiền cho anh P, trong đó anh D1 cũng được hưởng lợi 250 triệu. Như vậy mặc dù giao dịch chuyển nhượng ký kết được lập theo mẫu, có công chứng theo đúng quy định pháp luật; đối tượng giao dịch là QSDĐ có đủ điều kiện tham gia giao dịch, tức là hợp đồng tuân thủ quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức; người nhận chuyển nhượng cũng đã được xác lập, cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Nhưng ở đây yếu tố hai bên tham gia giao dịch tự nguyện là không đảm bảo, bởi lẽ ông L là người bị lừa dối, ông hoàn toàn không biết đây là giao dịch mua bán, chuyển nhượng, nên cấp sơ thẩm xác định giao dịch vô hiệu theo Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 là có căn cứ. [3] Đi vi hợp đồng CNQSDĐ giữa nguyên đơn với anh D1: mặc dù giao dịch ký kết cũng được lập theo mẫu, có công chứng theo đúng quy định; quyền sử dụng đất có đủ điều kiện tham gia giao dịch, hợp đồng tuân thủ quy định cả về nội dung và hình thức; người nhận chuyển nhượng cũng đã được cấp giấy đất. Tuy nhiên, như cấp sơ thẩm đã phân tích, do giao dịch chuyển nhượng ban đầu giữa anh D1 với ông L bị vô hiệu nên giao dịch tiếp theo giữa anh D1 với nguyên đơn cũng vô hiệu theo. Ngoài ra, đi tng giao dch gia đôi bên là QSDĐ, nhng trên đt li có nhà ca ngi th ba là ông L và 03 ngôi m không đc ghi nhn vào hp đng chuyn nhng; không th hin quyn li, nghĩa v nh hng đn ngi th ba th nào. Nh vy hp đng CNQSDĐ trong trng hp này có đi tng không th thc hin đc và cũng không thuc trng hp đc bo v quyn li ca ngi th ba ngay tình khi giao dch dân s vô hiu theo Điu 138, 411 B lut dân s năm 2005. [4] Đối với hợp đồng thuê QSDĐ: như cấp sơ thẩm đã phân tích, ông L không ký tên mà do anh P giả mạo chữ ký của ông L là hành vi lừa dối của người thứ ba nên hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng không có việc giao nhận tài sản với nhau nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. [5] V hu qu ca hp đng vô hiu: cp s thm lp lun “…do không xác đnh nguyên đn tr tin cho ai, nên căn c theo li khai ca anh D1, anh P s tin này đã trả cho Ngân hàng TMCP Công Thương để giải chấp khoản nợ anh D1 đứng tên vay, sau đó lập giấy cho anh P vay 750 triệu. Anh D1 đã sang tên giấy đất cho nguyên đơn và không còn liên quan đến thỏa thuận về phần đất giữa anh P với nguyên đơn. Anh P cho rằng chỉ nhờ anh C đứng tên giấy đất để vay tiền Ngân hàng TMCP Quân Đội, anh Pđồng ý trả 1,1 tỷ cho anh C. Vì vậy, hậu quả của hợp đồng CNQSDĐ ngày 14/4/2016, ngày 13/7/2016 vô hiệu, anh C, chị Diễm làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất lại cho ông L; anh C, chị Diễm được nhận lại 1,1 tỷ đồng từ anh P“. Lập luận và cách giải quyết của cấp sơ thẩm là không có căn cứ và không đúng quy định pháp luật. Trong vụ án này lỗi dẫn đến làm cho hợp đồng vô hiệu có cả phần của anh D1 cùng với anh P lừa dối ông L. Lẽ ra phải buộc trách nhiệm anh P và anh D1 liên đới bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn nếu có. Tuy nhiên, theo kết quả định giá tài sản thì giá trị đất hiện nay không chênh lệch so với thời điểm giao dịch nên không có thiệt hại. Do đó không buộc người có lỗi phải bồi thường thiệt hại; đồng thời do anh P tự nguyện chịu trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền lại cho nguyên đơn nên không cần buộc trách nhiệm của anh D1. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu phải theo đúng quy định pháp luật. Như vậy, toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ nên không được chấp nhận. Tuy nhiên, người liên quan là anh P có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1,1 tỷ cho nguyên đơn nhưng cấp sơ thẩm không buộc chịu án phí là sai. Còn nguyên đơn đã phải chịu án phí giá ngạch số tiền thuê đất không được chấp nhận thì không phải chịu thêm án phí không giá ngạch của hợp đồng thuê, nên phải sửa án phần này như đề nghị của Kiểm sát viên phúc thẩm là phù hợp. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét. [6] V án phí phúc thm: kháng cáo ca nguyên đn không đc chp nhn nên phi chu theo quy đnh. Vì các l trên; QUYT ĐNH Căn c: Khon 3 Điu 26, 147, 148, khon 2 Điu 308 B lut t tng dân s; Điu 132, 138, 411, 697, 703 B lut dân s năm 2005; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điu 203 Lut Đt đai năm 2013; Điều 29 Ngh quyt 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban Thng v Quc hi. Tuyên x: Không chp nhn kháng cáo ca nguyên đn; Sa mt phn bn án s thm v án phí. 1/- Không chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên đn. 2/- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2016 giữa ông Nguyễn Thanh L với anh Đặng Văn D1 vô hiệu; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/7/2016 giữa anh Đặng Văn D1 với anh Lê Thái C, chị Lê Thị D vô hiệu; hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 26/7/2016 giữa anh Lê Thái C, chị Lê Thị D với ông Nguyễn Thanh L vô hiệu. Buộc nguyên đơn có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển quyền lại cho bị đơn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS2332, CS2333, CS2334 cấp ngày 26/4/2016 (chỉnh lý sang tên cho nguyên đơn ngày 19/7/2016) diện tích 8.906,4m2 , thửa 493, 1028, 692, 713, 790, tờ bản đồ số 03; đất tọa lạc tại ấp Trường T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 05, 06/TTKTTNMT ngày 13/01/2021 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ). 3/- Buộc anh Nguyễn Bá P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 1.100.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 4/- V án phí: nguyên đn phi chu 23.680.000đ án phí s thm; khu tr vào s tin đã np tm ng 2.125.000đ theo Biên lai s 004800 ngày 28/02/2017 và s 004999 ngày 21/8/2017 nên còn phi np thêm 21.555.000đ án phí s thm và phi chu 300.000đ án phí phúc thm, chuyn s tin đã np tm ng theo Biên lai s 0007508 ngày 03/10/2022 thành án phí phúc thm, đã np xong. Ngi có quyn li, nghĩa v liên quan anh Nguyn Bá P phi chu 45.000.000đ án phí s thm. Bị đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000đ theo Biên lai số 005063 ngày 22/10/2018. 5/- V chi phí giám đnh ch ký: 14.000.000đ nguyên đn, b đn mi bên chu ½; bị đơn đã tạm ứng 6.000.000đ, VPCC Lê Tấn Q tạm ứng 10.000.000đ chi xong; nên bị đơn phải nộp 1.000.000đ, nguyên đơn nộp 7.000.000đ để trả lại VPCC Lê Tấn Q; VPCC Lê Tấn Q được nhận lại 2.000.000đ tại Tòa án huyện Phong Điền. Chi phí đo đạc, định giá: 12.000.000đ nguyên đơn chịu, đã nộp xong. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án. Trng hp bn án, quyt đnh đc thi hành theo quy đnh ti Điu 2 ca Lut Thi hành án dân s thì ngi đc thi hành án dân s, ngi phi thi hành án dân s có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b cng ch thi hành án theo quy đnh ti các Điu 6, 7, 7a, 7b và 9 ca Lut Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án đc thc hin theo quy đnh ti Điu 30 ca Lut Thi hành án dân s. TM. HI ĐNG XÉT X PHÚC THM Ni nhn : THM PHÁN-CH TA PHIÊN TÒA - Các đng s - VKSND.TPCT - TAND.H. Phong Đin. - Chi cc THADS.Phong Đin.

Cỡ chữ