vanban.org

Bản án 118/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt: Bị cáo Võ Thành T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn t tính từ ngày 01/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ thành trung-trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2022/HSST
Ngày 29/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: ng B i T n Khoa

ng Đỗ Thu Bình

Thư ký phiên tòa: ng Bá V n Nhân -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Mỹ Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2022, tại Điểm cầu T tâm Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và Điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2022/HSST, ngày 06/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HS ngày 06/9/2022 đối với bị cáo:

Võ Thành T (tên gọi khác: S), sinh n m 1997; Nơi sinh: Bình Thuận

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố L, thị tr n L1, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học v n: không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Đức Ô (đã chết) và bà Nguyễn Thị Phương Đ; nh chị em ruột có 06 người, lớn nh t sinh n m 1989, nhỏ nh t sinh n m 2000; Vợ: Nguyễn Thị Cẩm V (đã ly hôn); Con: 01 người sinh n m 2018.

Tiền sự: không.

Tiền án: 01 Tiền án.

Ngày 07/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 15 tháng t , về tội: “Trộm cắp tài sản”, ch p hành án đến ngày 06/01/2022 về địa phương, chưa được xóa án tích;

Bị cáo bị khởi tố ngày 01/8/2022 Cơ quan điều tra bắt bị cáo để tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình.

Bị hại: Bà Võ Thị E, sinh n m 1952

Địa chỉ: Khu phố L, thị tr n L1, huyện B, tỉnh Bình Thuận; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ ng Đặng Xuân Ngọc, Thẩm phán Tòa án tham gia tại điểm cầu thành phần

+ ng Tằn Đình Thống, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

+ ng Đặng T Nhân, Đội phó Đội tội phạm tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành.

+ ng Thanh T ng, Chiến sĩ Công an nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

+ ng B i Huy Trí, Chiến sĩ Công an nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thành T (S), sinh n m 1997 ở khu phố L, thị tr n L1, huyện B, tỉnh Bình Thuận, vào ngày 07/4/2021, T bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 15 tháng t , về tội: “Trộm cắp tài sản”, ch p hành án đến ngày 06/01/2022 về địa phương, chưa được xóa án tích.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/3/2022, Võ Thành T đi bộ từ nhà T ở khu phố L, thị tr n L1, huyện B, tỉnh Bình Thuận đến nhà bà Võ Thị E ở c ng khu phố để tìm con trai bà E tên Hoàng Cao O (Số Một) với mục đích mượn điện thoại của O chơi game. Khi đến nhà bà E thì T th y nhà bà E mở cửa trước nên T đi từ trước ra sau nhà thì chỉ th y có bà E ở nhà, T hỏi bà E “có Số Một ở nhà không” thì bà E trả lời “không có”, T đi ra lại trước nhà để đi về. Khi T đi ngang qua phòng khách nhà bà E thì T th y 01 chiếc điện thoại di động Samsung J7 Prime của bà E đang để trên kệ dép sạc pin, T nảy sinh ý định l y trộm chiếc điện trên mang về nhà để chơi game nên T đi đến nơi để chiếc điện thoại, T d ng tay cầm l y chiếc điện thoại rút dây sạc pin rồi cầm chiếc điện thoại trên đi về nhà. Khi về nhà, T th y màn hình kính cường lực có một vết nứt nên T d ng tay gỡ kính cường lực của chiếc điện thoại ra, trong quá trình T gỡ kính cường lực thì sơ ý làm điện thoại rơi xuống đ t bị nứt kính màn hình điện thoại. Khoảng 10 phút sau bà E phát hiện m t chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, nghi ngờ T l y trộm nên bà E đi đến nhà T hỏi T có l y chiếc điện thoại của bà E hay không thì trả lại cho bà E, T thừa nhận có l y chiếc điện thoại của bà E và đưa cho bà E chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime bị nứt kính màn hình, th y chiếc điện thoại bị nứt kính màn hình nên bà E cho rằng đây không phải là chiếc điện thoại di động của bà E bị m t nên bà E không nhận mà đi về, bà E trình báo Công an thị tr n Lương Sơn. Sau đó bà E đi c ng A (con gái bà E) đến lại nhà T, lúc này T nói với bà E là do T làm nứt kính màn hình điện thoại và đưa cho bà E chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime bị nứt màn hình cho bà E, bà E kiểm tra chiếc điện thoại thì xác nhận đó chính là chiếc điện thoại của bà E. Nghe tin báo lực lượng Công an thị tr n L1 đến nhà Võ Thành T thì gặp bà E và T nên Công an thị tr n Lương Sơn mời T và bà E về trụ sở Công an thị tr n Lương Sơn làm việc, tại đây T thừa nhận l y trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime của bà E. Công an thị tr n L1 tạm giữ chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime rồi chuyển cho Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình giải quyết.

Theo Kết luận định giá tài sản số 28/2022/HĐĐG-TTHS ngày 08/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bắc Bình, kết luận: điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng đồng, Ram 03GB, Rom 32Gb, mua mới n m 2018 bị nứt nhẹ 01 vết ở phía camera, nguyên giá 4.090.000 đồng/cái, ch t lượng còn lại: 20%, thành tiền 818.000 đồng.

Về tang, vật chứng: Công an thị tr n L1 tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng đồng. Sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết, sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại Võ Thị E theo quy định.

Về phần dân sự: Võ Thành T đã bồi thường cho bà Võ Thị E số tiền 300.000 đồng để khắc phục hậu quả T làm rớt chiếc điện thoại của bà E bị nứt nhẹ 01 vết ở phía camera, bà E đã nhận số tiền 300.000 đồng và không yêu cầu gì thêm. Vì vậy không xem xét giải quyết,

Bản cáo trạng số 87/CT-VKS-BB ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Võ Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017), xử phạt bị cáo Võ Thành T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần xử lý tang vật chứng: Không đề nghị xử lý.

Về phần dân sự: Bà Võ Thị E không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Lời nói sau c ng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Bắc Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, ph hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, ph hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có cơ sở khẳng định vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 28/3/2022 tại nhà bà Võ Thị E ở khu phố L, thị tr n L1, huyện B, tỉnh Bình Thuận, do Võ Thành T có 01 tiền án về tội: “ Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, T tiếp tục thực hiện hành vi l y trộm 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime, màu vàng đồng của bà Võ Thị E trị giá 818.000 đồng thì bị phát hiện.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Võ Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017) là có c n cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính ch t, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Võ Thành T là người có đầy đủ n ng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ hành vi và hậu quả đã gây ra.

Hành vi phạm tội nêu trên của Võ Thành T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo T đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi trộm cắp, hành động của bị cáo là thể hiện tính xem thường pháp luật, gây m t trật tự trị an ở địa phương và Võ Thành T có quá trình hoạt động nhân thân không tốt nên cần phải xử lý nghiêm minh và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần r n đe phòng ngừa chung.

Về các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết t ng nặng.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T thành khẩn khai báo, giá trị tài sản thiệt hại không lớn, đã bồi thường thiệt hại về tài sản đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Về xử lý vật chứng: Không đề nghị xử lý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại Võ Thị E không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Võ Thành T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn t tính từ ngày 01/8/2022.

Về án phí: C n cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: C n cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ