vanban.org

Bản án 118/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt A: 07( Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 01 năm 2022. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt A phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:118/2022/HS-ST
Ngày 31 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trần Phan

Ông Nguyễn Danh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânquận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2022/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Việt A, sinh năm 1983 tại thành phố N; đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số M phố Đ, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B và bà: Nguyễn Thị Minh T; vợ Nguyễn Diệu A (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; tiền sự: Không; tiền án: Không. Danh chỉ bản số: 115 ngày 14/4/2022 của Công an quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Ngô Lê P, sinh năm 1988; đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số C phố B, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/01/2022, Nguyễn Việt A đi bộ một mình lang thang qua các tuyến phố thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến tập thể Viện thiết kế Đồng Nhân, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Việt Anh thấy 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc đen, BKS 30N4-1360, số khung: 004250, số máy: 0804647 của chị Ngô Lê P, sinh năm: 1988, HKTT và chỗ ở: Số C phố B, phường B, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội đang dựng tại khu vực sân tập thể không có người trông giữ, chìa khóa cắm ở ổ khóa cốp xe, xe khóa cổ, không khóa càng, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe hướng ra ngoài. Thấy vậy, A nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên để lấy tiền tiêu sài. A tiến lại gần xe máy, dùng tay phải rút chìa khóa ở cốp xe rồi cắm chìa khóa xe vào ổ khóa của xe máy. Bị cáo đề nổ xe, lùi xe máy về phía sau và đầu quay xe để tẩu thoát thì bị anh Lê Ngọc L, sinh năm: 1989, HKTT: Số M Phố H, phường C, quận H, TP. Hà Nội phát hiện và hô trộm trộm. Ngay lúc này, tổ công tác công an phường Đồng Nhân đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra nghe thấy tiếng hô nên đã cùng anh L đuổi theo A. A tăng ga bỏ chạy được khoảng 20m thì bị tổ công tác cùng anh L khống chế, bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội qua tang đối với A, tiến hành thu giữ vật chứng, sau đó đưa A về trụ sở Công an phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội để giải quyết. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc đen, BKS 30N4-1360, số khung: 004250, số máy: 0804647; 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus đã qua sử dụng, số Imei 355389070891542.

Ngày 20/01/2022, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng ra Yêu cầu định giá tài sản số 22 đối với xe máy đã thu giữ. Ngày 21/3/2022, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng có Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 37, kết luận : 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc đen, BKS 30N4-1360, số khung: 004250, số máy: 0804647 đã qua sử dụng trị giá 6.500.000đồng.

Tại Cơ điều tra, Nguyễn Việt A khai nhận hành vi phạm tội như nội quan dung trên. Bị cáo khai mục đích trộm cắp chiếc xe máy trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Quá trình xác minh chủ sở hợp pháp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc đen, BKS 30N4-1360, số khung: 004250, số máy: 0804647 là chị Ngô Lê P, sinh năm: 1988, HKTT và chỗ ở: Số 3C phố B, phường B, quận H, TP. Hà Nội. Chị P đề nghị Cơ quan công an trả chiếc xe máy trên cho chị. Ngày 10/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử lý vật chứng số 30 trao trả lại cho chị Ngô Lê P chiếc xe máy trên, chị P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự, đề nghị xử lý Nguyễn Việt A theo quy định pháp luật. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus đã qua sử dụng, số Imei 355389070891542 thu giữ của Nguyễn Việt A : Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên ngày 10/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, trao trả cho Nguyễn Việt Anh chiếc điện thoại trên.

Bản cáo trạng số 95/CT/VKSHBT ngày 17/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Việt A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung đã nêu trên là đúng; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, sau đó nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 13/01/2022, tại Khu vực sân tập thể Viện thiết kế Đồng Nhân, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Việt A đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc đen, BKS 30N4-1360, số khung:004250, số máy: 0804647 đã qua sử dụng có trị giá 6.500.000đồng (Sáu triệu, năm trăm nghìn đồng). Do đó đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bị cáo là đối tượng nghiện rượu, không chịu làm ăn nên đã đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chính vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s,i khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự; do vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nhưng có phần nghiêm khắc, do vậy hội đồng xét xử cân nhắc đưa ra mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt A: 07( Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 01 năm 2022.

Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ