- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu H (Tên gọi khác: H còi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2022/HS-ST. Ngày: 22-11-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Minh.
2. Bà Trần Thị Kim Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án Hình sự thụ lý số 97/2022/HS.ST ngày 14/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2022/QĐXXST-HS ngày 08/11/2022 đối với bị cáo:
TRẦN HỮU H (Tên gọi khác: H còi) – Sinh năm 1978; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Bình An 3, xã Tân Bình, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Cha: Trần Hữu V (chết); Mẹ: Nguyễn Thị P (chết). Gia đình có tám anh em, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Nguyễn Thị T , sinh năm 1983. Hiện ở thôn B, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Có một con, sinh năm 2004.
Tiền án:
- Ngày 28/12/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/10/2006, chưa được xóa án tích.
- Ngày 29/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 07/5/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 29/6/2007 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai buộc Trần Hữu H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 56 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2011, chưa được xóa án tích.
- Ngày 14/8/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 137/HSST.
- Ngày 29/11/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 197/HSST.
- Ngày 16/01/2013, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định tổng hợp hình phạt số 01, tổng hợp 04 năm 06 tháng tù theo bản án số 137/HSST ngày 14/8/2012 và 03 năm tù tại bản án số 197/HSST ngày 29/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, buộc Trần Hữu H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 năm 06 tháng tù.
- Ngày 29/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 197/2014/HSST. Cộng với 07 năm 06 tháng tù tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 01 ngày 16/01/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết (đã tổng hợp 04 năm 06 tháng tù theo bản án số 137/HSST ngày 14/8/2012 và 03 năm tù tại bản án số 197/HSST ngày 29/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết). Tổng hợp hình phạt chung buộc Trần Hữu H phải chấp hành cho các bản án là 12 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2021, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 17/5/1999, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng” tại bản án số 788/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/1999, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt ngày 24/7/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Bắc từ ngày 24/7/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Nguyễn Kim T – Sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc S – sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã LaGi, tỉnh Bình Thuận.
Người làm chứng: Nguyễn Xuân H – Sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Hữu H (H Còi), sinh năm 1978, ở thôn Bình An 3, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận là đối tượng có nhiều tiền án, đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích. Trong thời gian chưa được xóa án tích, H tiếp tục phạm tội mới, cụ thể như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 22/7/2022, Trần Ngọc S, sinh năm 1991, ở khu phố 3, phường Bình Tân, thị xã La Gi gọi điện thoại cho H nhờ trông coi con giúp và cho S mượn xe mô tô, biển số 60V6-5791 của H (theo H khai xe này H mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch) để đi tìm chị Trần Thị Thanh V, sinh năm 1985, ở thôn 4, xã Măng Tố, huyện Tánh Linh (V là vợ không đăng ký kết hôn với S, trước đó khoảng một tuần xảy ra mâu thuẫn với S và bỏ về huyện Tánh Linh) thì được H đồng ý. Đến khoảng 04 giờ ngày 23/7/2022, S điều khiển xe mô tô, biển số 60V6-5791 đến nhà Lê Văn P, sinh năm 1992, ở thôn 8, xã Măng Tố, huyện Tánh Linh để tìm V nH sợ Phương đánh nên S gọi điện thoại cho H nhờ chạy lên huyện Tánh Linh giúp, H đồng ý. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của người khác sau khi giải quyết xong công việc của S nên H lấy 01 cây khóa 10, hình dạng chữ L, thân tròn, 01 cây kim loại dài 05cm, 01 đầu tròn, 01 đầu dẹt và 01 cây kim loại tròn dài 11cm, gắn vào cây cây kim loại dài 04cm có đầu tròn cất giấu trong người để làm công cụ trộm cắp xe. Sau đó, H nhờ Trần Ngọc Hậu, sinh năm 1984, ở khu phố 3, phường Phước Hội, thị xã La Gi, điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở H đi huyện Tánh Linh. Đến khoảng 07 giờ ngày 23/7/2022, H và Hậu gặp S tại xã Măng Tố, huyện Tánh Linh, Hậu để H ở lại rồi đi về thị xã La Gi. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày 23/7/2022, H cùng S đến nhà Phương tiếp tục tìm chị V nH không có nên H điều khiển xe mô tô, biển số 60V6-5791 chở S đi về lại thị xã La Gi. Tuy nhiên, do không biết đường nên H điều khiển xe chạy lạc theo đường Quốc lộ 55 về hướng huyện Hàm Thuận Bắc. Trên đường đi, H buồn ngủ nên đưa xe cho S chở. Đến khoảng 09 giờ 39 phút cùng ngày, khi S chở H đến khu vực thôn 4, xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc thì H phát hiện trên sân nhà của ông Đỗ Minh T, sinh năm 1983, ở thôn 4, xã La Dạ có để 01 xe mô tô, biển số 86B3-582.42, loại xe Winner (chủ sở hữu là anh Nguyễn Kim T, sinh năm 1997, ở thôn 4, xã La Dạ) nên nói S dừng xe mô tô lại bên đường để H xuống đi vệ sinh, S tưởng thật nên dừng xe để H xuống xe đi vệ sinh, H quan sát xung quanh, thấy không có người trông coi xe mô tô, biển số 86B3-582.42 nên lén lút đi đến dùng cây khóa cậy bung ổ khóa cửa cổng lưới B40, mở cửa đi đến chỗ xe mô tô, thấy trên xe không có chìa khóa nên H dùng cây đoản bẻ ổ khóa xe mô tô, biển số 86B3-582.42 rồi cất cây đoản vào túi quần, sau đó, H dắt xe mô tô trên ra ngoài đường rồi nổ máy xe bỏ chạy. Do S không biết và không bàn bạc trước với H nên khi thấy H điều khiển xe mô tô, biển số 86B3-582.42 chạy đi thì S cũng điều khiển xe mô tô, biển số 60V6-5791 chạy theo phía sau, được một đoạn thì S chạy theo H không kịp và bị lạc mất H, còn H điều khiển xe mô tô, biển số 86B3-582.42 chạy một lúc thì lạc vào đường cụt, H dừng xe lại dùng cây khóa 10 tháo biển số xe mô tô 86B3-582.42 cất giấu trong áo rồi tiếp tục điều khiển xe chạy quay về lại hướng huyện Tánh Linh. Cùng thời gian này, anh T phát hiện bị mất trộm xe mô tô, biển số 86B3-582.42 nên trình báo sự việc cho Công an xã La Dạ. Công an xã La Dạ phối hợp cùng người dân tiến hành truy tìm thì phát hiện H đang điều khiển xe mô tô, loại Winner, không gắn biển số chạy trên đường, Công an xã La Dạ cùng người dân đuổi theo đến khu vực cầu Tà Mỹ, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh thì H bị ngã xe nên Công an xã La Dạ và người dân ở gần đó giữ được H cùng với xe mô tô, loại Winner, không gắn biển số, kiểm tra trong người H thì phát hiện biển số xe mô tô 86B3-582.42 đang cất giấu trong áo, đồng thời giữ trên người H 01 cây khóa 10, 02 cây kim loại dùng để trộm cắp xe mô tô. Công an xã La Dạ lập biên bản ghi nhận sự việc, đưa H về trụ sở Công an làm việc, tại đây H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Công an xã La Dạ chuyển hồ sơ và tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc xử lý theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 41/2022/HĐĐGTT ngày 26/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Bắc kết luận:
- 01 xe mô tô, biển số: 86B3-582.42. Loại xe hai bánh, nhãn hiệu HONDA, số loại Winer, màu S: đỏ-đen-trắng, đăng ký lần đầu 01/2018. Số máy: KC26E1153181; Số khung: 2601GY306798. Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 39.800.000 đồng. Trị giá sử dụng còn lại là 60%. Thành tiền: 39.800.000 đồng x 60% = 23.880.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản định giá là 23.880.000 đồng (Hai mươi ba triệu, tám trăm tám mươi ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Xe mô tô không gắn biển số nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, số khung: RLHKC2601GY306798, số máy: KC26E1153181, màu S đỏ đen trắng và 01 biển số xe 86B3-582.42. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Kim Tiến là chủ sở hữu.
- 01 cây khóa 10, hình dạng chữ L, thân tròn; 01 cây kim loại dài 05cm, 01 đầu tròn, 01 đầu dẹt; 01 cây kim loại tròn dài 11cm, gắn vào cây kim loại dài 04cm có đầu tròn là vật chứng của vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc để bảo quản, chờ xử lý.
- Xe mô tô, biển số 60V6-5791, số máy HC12E-6473899, số khung RLHHC1201BY473859. Trần Hữu H khai xe này H mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch. Qua xác minh, chủ sở hữu đứng tên trên giấy tờ xe là ông Hoàng Văn V, sinh năm 1975, ở ấp 5, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, ông Việt khai xe trên đã bán cho người khác, không nhớ bán cho ai do thời gian đã lâu, xe không bị mất trộm. Ngoài ra, khi Trần Hữu H thực hiện việc trộm cắp xe mô tô, biển số 86B3-582.42 của anh Nguyễn Kim T vào ngày 23/7/2022 tại thôn 4, xã La Dạ thì xe mô tô, biển số 60V6-5791 do Trần Ngọc S điều khiển. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô, biển số 60V6-5791 cho Trần Hữu H do không liên quan đến việc phạm tội.
- 01 đoạn clip (video) tại hộ nhà ông Đỗ Minh T, sinh năm 1983, ở thôn 4, xã La Dạ dài 58 giây có tên video-doawnload-1658561659135-1658561674312.mp4, kích thước 4,38MB (được lưu trong 01 đĩa DVD), ghi lại diễn biến sự việc Trần Hữu H trộm cắp xe mô tô, biển số 86B3-582.42 của anh Nguyễn Kim T vào ngày 23/7/2022 tại thôn 4, xã La Dạ. Đây là chứng cứ của vụ án nên chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Về Dân sự: Anh Nguyễn Kim T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSHTB ngày 14/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố Trần Hữu H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra. Xác định Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với 01 cây khóa 10, hình dạng chữ L, thân tròn; 01 cây kim loại dài 05cm, 01 đầu tròn, 01 đầu dẹt; 01 cây kim loại tròn dài 11cm, gắn vào cây kim loại dài 04cm có đầu tròn là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 đoạn clip (video) tại hộ nhà ông Đỗ Minh T, sinh năm 1983, ở thôn 4, xã La Dạ dài 58 giây có tên video-doawnload-1658561659135-1658561674312.mp4, kích thước 4,38MB (được lưu trong 01 đĩa DVD), ghi lại diễn biến sự việc Trần Hữu H trộm cắp xe mô tô, biển số 86B3-582.42 của anh Nguyễn Kim Tiến vào ngày 23/7/2022 tại thôn 4, xã La Dạ. Đây là chứng cứ của vụ án tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Bị hại anh Nguyễn Kim T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu H khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 09 giờ 39 phút ngày 23/7/2022, Trần Hữu H đã lén lút phá cửa cổng, đột nhập vào nhà ông Đỗ Minh T, sinh năm 1983 ở thôn 4, xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc lấy trộm 01 xe mô tô, biển số 86B3-582.42 của anh Nguyễn Kim T, sinh năm 1994 ở cùng thôn 4, xã La Dạ để xe tại nhà ông Tâm. Trên đường H điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được tẩu thoát thì bị Công an xã La Dạ và người dân phối hợp bắt giữ được người cùng tang vật vụ án. Trị giá xe mô tô bị H lấy trộm qua định giá là 23.880.000 đồng(Hai mươi ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Bị cáo Trần Hữu H đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của bị cáo Trần Hữu H đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản” theo Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ, muốn có tiền tiêu sài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc, nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật với giá trị là 23.880.000 đồng. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình nH vẫn cố ý thực hiện, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật , xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.
[4[ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.
[6] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả lại: Xe mô tô không gắn biển số nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, số khung: RLHKC2601GY306798, số máy: KC26E1153181, màu S đỏ đen trắng và 01 biển số xe 86B3-582.42 cho anh Nguyễn Kim T là chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp.
Đối với Xe mô tô, biển số 60V6-5791, số máy HC12E-6473899, số khung RLHHC1201BY473859. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô, biển số 60V6-5791 cho Trần Hữu H do không liên quan đến việc phạm tội là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 cây khóa 10, hình dạng chữ L, thân tròn; 01 cây kim loại dài 05cm, 01 đầu tròn, 01 đầu dẹt; 01 cây kim loại tròn dài 11cm, gắn vào cây kim loại dài 04cm có đầu tròn là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Riêng 01 đĩa DVD có tên video-doawnload-1658561659135-1658561674312.mp4 ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại hộ nhà ông Đỗ Minh Tâm vào ngày 23/7/2022 tại thôn 4, xã La Dạ chuyển theo cùng hồ sơ vụ án, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Kim T sau khi nhận lại tài sản trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
[8] Về những vấn đề khác:
Đối với Trần Ngọc S là người đi cùng với Trần Hữu H khi H lén lút lấy trộm 01 xe mô tô, biển số 86B3-582.42 của anh Nguyễn Kim Tiến vào ngày 23/7/2022, tại thôn 4, xã La Dạ. Tuy nhiên, S không biết, không bàn bạc gì với H về việc trộm xe, cũng không có hành vi gì để giúp sức hoặc hỗ trợ H khi H trộm cắp tài sản nên không đủ căn cứ để xử lý Trần Ngọc S là đồng phạm với Trần Hữu H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Hữu H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu H (Tên gọi khác: H còi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Trần Hữu H (Tên gọi khác: H còi) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây khóa 10, hình dạng chữ L, thân tròn; 01 cây kim loại dài 05cm, 01 đầu tròn, 01 đầu dẹt; 01 cây kim loại tròn dài 11cm, gắn vào cây kim loại dài 04cm có đầu tròn hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2022.
- Riêng 01 đĩa DVD có tên video-doawnload-1658561659135-1658561674312.mp4 ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại hộ nhà ông Đỗ Minh Tâm vào ngày 23/7/2022 tại thôn 4, xã La Dạ chuyển theo cùng hồ sơ vụ án tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Hữu H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/11/2022). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp; -VKSND huyện HTB; - Công an huyện HTB; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |