- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2022/HS-PT Ngày: 15-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải.
Ông Lê Văn Duy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 67/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn H (tên thường gọi: B), sinh năm 1994 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKKKTT: Tổ 70, khu vực 8, phường Q, Tp. Q, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Tổ 20B, khu vực 2, phường Q, Tp. Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 và bà: Trần Thị S, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 29 tháng 7 năm 2021, Trương Đặng Minh Đ rủ Trần Minh S, Phạm Hoàng A, Ngô Bảo M đến nhà ông Lê Văn H tại tổ 1, KV1, phường G, thành phố Q để chở bộ bàn ghế gỗ. S điều khiển xe ô tô biển số 77A-122.XX ( xe thuê của anh Trần Thanh P) chở cả nhóm đến khu vực gần cửa hàng xăng dầu P để thuê anh Trần Viết N điều khiển xe ô tô tải biển số 77C-158.XX và Trần Nhược K đi theo để chở bộ bàn ghế.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nhà ông H, Đ nói với ông H rằng mình đến chở bộ bàn ghế mà Phạm Trung H gửi cho Lê Minh H1 (con ruột ông H). Ông H gọi điện thoại báo H1, H1 liên hệ với Phạm Trung H xác minh lại, nhưng không đúng sự thật, ông H từ chối không cho nhóm Đ chở bộ bàn ghế đi, nên nhóm của Đ bỏ về. Lúc này, Phạm Trung H điều khiển xe ô tô biển số 77C-160.XX chở Nguyễn Văn H, Võ Đình Minh H và Nguyễn Duy D đến nhà ông H để hỏi rõ việc Đ đến chở bộ bàn ghế. Khi đến đoạn dốc đường bê tông vào nhà ông H, Phạm Trung H điều khiển xe của mình ép xe ô tô 77A-122.XX vào bãi đất trống gần đó và yêu cầu nhóm của Đ xuống xe nói chuyện. Lúc này, Đức điều khiển xe ô tô 77A-122.XX lao xe về hướng đường bê tông bỏ đi thì Nguyễn Văn H đang đứng ở lối ra, thấy xe chạy về hướng mình nên dùng chân trái đạp vào gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô 77A-122.XX gây hư hỏng. Tiếp đến, N cũng điều khiển xe ô tô 77C-158.XX đi xuống dốc phía sau, Nguyễn Văn H nhặt viên gạch dưới đất ném vào kính chắn gió xe ô tô của N gây hư hỏng. N dừng xe xuống nói chuyện với nhóm của H và hai bên chờ Công an phường G đến giải quyết.
Ngày 15/9/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Tp. Q kết luận: Vật tư thay thế, khắc phục sửa chữa 01 kính chắn gió phía trước kích thước (75x155)cm xe ô tô biển số 77C-158.XX bị vỡ dạng lưới là 1.200.000 đồng. Vật tư thay thế, khắc phục sửa chữa 01 cụm gương chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 77A-122.XX bị vỡ phần ốp nhựa, mặt gương vỡ rơi mất là 4.100.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ và trả lại: 01 xe ô tô biển số 77A-122.45 cho anh Trần Thanh P.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường 1.500.000 đồng và 5.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe ô tô 77C-158.XX và xe ô tô 77A-122.XX. Anh Trần Viết N, anh Trần Minh S không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 98/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/7/2021, tại đoạn dốc đường bê tông vào nhà ông Lê Văn H ở tổ 1, khu vực 1, phường G, thành phố Q, bị cáo Nguyễn Văn H đã dùng chân đạp vào gương chiếu hậu trái xe ô tô biển số 77A-122.XX của anh Trần Minh S thuê của anh Trần Thanh P, sau đó bị cáo nhặt viên gạch ném vào kính chắn gió xe ô tô biển số 77C-158.XX của anh Trần Viết N làm 02 xe bị hư hỏng, tổng trị giá thiệt hại là 5.300.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm chứng cứ bị cáo là quân nhân xuất ngũ. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận.
Về án phí: Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H được chấp nhận một phần, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm.
1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
1.2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS CA thành phố Q; - TA, VKS, CQĐT CA thành phố Q; - Chi cục THADS thành phố Q; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Liên |