- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H."
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 07/9/2022 V/v “Xin ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Kim Thu
Bà Lê Thị Vân Anh
Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 133/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/4/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 14/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 05/8/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1998 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp S, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị L và anh Lê Văn H lấy nhau là do mai mối và tổ chức đám cưới vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy ngày 04/01/2017. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do gia đình bên chồng khó khăn, anh H không quan tâm vợ con còn thường xuyên ghen tuông và có đôi khi còn hành hung chị L vô cớ. Chị L và anh H sống ly thân với nhau hai năm nay. Nay chị L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị L và anh H có 01 người con chung tên Lê Hoàng Khánh A, sinh năm 2017 hiện nay đang ở với anh H. Ly hôn, chị L đồng ý giao cháu A cho anh H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và chị không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của bị đơn anh Lê Văn H: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh H vẫn vắng mặt. Do đó, không có lời khai của anh Lê Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định vụ án này như sau:
[1] Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị L thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp H, xã L, huyện H nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Bùi Thị L và anh Lê Văn H là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2017. Quá trình chung sống giữa chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn do gia đình bên chồng khó khăn, anh H không quan tâm vợ con còn thường xuyên ghen tuông và có đôi khi còn hành hung chị L vô cớ. Hiện nay chị L và anh H sống ly thân với nhau hai năm nay. Nay chị Bùi Thị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.
Xét yêu cầu của chị L Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh H không còn khả năng đoàn tụ vì theo chị L trình bày thì giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh H không quan tâm, ghen tuông đôi khi còn hành hung chị L vô cớ; đồng thời trong thời gian sống ly thân anh chị cũng không liên lạc hay quan tâm gì đến nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Lê Văn H là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Hoàng Khánh A, sinh năm 2017. Ly hôn, chị L đồng ý giao cháu A cho anh H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con cho ai nuôi dưỡng thì phải xem xét toàn diện mọi mặt về vật chất cũng như tinh thần đối với sự phát triển của con chung sau này. Do đó, việc giao cho anh H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A là hoàn toàn phù hợp. Bởi vì hiện nay cháu A đang do anh H nuôi dưỡng kể từ khi anh chị sống ly thân với nhau cho đến nay. Đồng thời, trong đơn khởi kiện chị Bùi Thị L đồng ý tự nguyện giao cháu A cho anh Lê Văn H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của chị L. Giao cháu A cho anh Lê Văn H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L về việc xin ly hôn với anh Lê Văn H.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Lê Văn H.
2/ Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Hoàng Khánh A, sinh năm 2017 cho anh Lê Văn H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Bùi Thị L không cấp dưỡng nuôi con.
Trong thời gian anh Lê Văn H nuôi con, chị Bùi Thị L có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.
Bảo lưu quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi một trong các bên có yêu cầu.
3/ Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4/ Về án ph Hôn nhân gia đình sơ th m: Buộc chị Bùi Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001710, ngày 16/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị L không phải nộp thêm tiền án phí sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Báo cho chị Bùi Thị L và anh Lê Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Kiên Giang; - VKS nhân dân huyện Hòn Đất; - UBND xã Lình Huỳnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Quốc Chiến |