- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân T và bị đơn anh Lưu Nguyệt V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Xuân T đối với anh Lưu Nguyệt V
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2022/HNGĐ - ST Ngày: 12/09/2022. “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lại Thiện Phong
Ông Danh On
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 92/2022/TLST–HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Xuân T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lưu Nguyệt V, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp N, thị trấn ND,
huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 02 năm 2022 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, chị Trần Thị Xuân T là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, chị T và anh Lưu Nguyệt V tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới hỏi theo phong tục, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/04/2019. Trong quá trình sống chung, thường xuyên cự cải, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng không chung sống một nhà từ tháng 06/2020 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V; Về quan hệ con chung: Chị T xác định có 01 người con chung là cháu Lưu Ngọc Nhi, sinh ngày 09/12/2019. Hiện tại cháu Nhi đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng anh V cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lưu Nguyệt V: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh V nhưng anh V không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh V. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh V không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh V vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, thị trấn ND, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh V có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Xuân T được ly hôn anh Lưu Nguyệt V; Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Lưu Ngọc Nhi, sinh ngày 09/12/2019 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị Xuân T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị Xuân T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lưu Nguyệt V và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lưu Nguyệt V có nơi đăng ký thường trú tại ấp N, thị trấn ND, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị Trần Thị Xuân T tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị T. Bị đơn anh Lưu Nguyệt V vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố Tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Lưu Nguyệt V.
Xét đơn khởi kiện của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, chị T và anh Lưu Nguyệt V tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới hỏi theo phong tục, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/04/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị T xác định chị và anh V có phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên chị T về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 06/2020 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị T và anh V có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm như chị T trình bày nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Trần Thị Xuân T được ly hôn anh Lưu Nguyệt V.
Về quan hệ con chung: Chị T xác định giữa chị và anh V có 01 người con chung là cháu Lưu Ngọc Nhi, sinh ngày 09/12/2019. Hiện tại cháu Nhi đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu tiếp tục được nuôi cháu Nhi và chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Lưu Ngọc Nhi hiện đang sống ổn định với chị T, cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định nên chấp nhận yêu cầu của chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về quan hệ tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Xuân T đối với anh Lưu Nguyệt V
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Xuân T được ly hôn với anh Lưu Nguyệt V.
2. Về con chung: Giao cháu Lưu Ngọc Nhi, sinh ngày 09/12/2019 cho chị Trần Thị Xuân T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lưu Nguyệt V không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Xuân T phải nộp 300.000 đồng, chị T đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006191 ngày 09/03/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu án phí.
Chị Trần Thị Xuân T và anh Lưu Nguyệt V có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; -UBND thị trấn Ngan Dừa - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Văn Tám |