vanban.org

Bản án 118/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản” ;

Xử phạt: bị cáo Đặng Nhật T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/5/2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản” ;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 118/2021/HSST
Ngày 22 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lâm Thị Hoàng Oanh – Cán bộ hưu trí Phường 1, quận Gò Vấp

2/ Ông Lê Văn Hương – Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, quận Bình Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Luy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ao Minh Hậu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Đặng Nhật T; tên gọi khác: không; giớ i tinh: nam; sinh ngày: 20/8/1996

́ tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: 5D/2 N, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiê ̣p: không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Văn Đ và con bà Tô Thị V; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giam từ ngày 08/5/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Phước L (có đơn xin vắng mặt); địa chỉ: 292 N, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Liễu P (có đơn xin vắng mặt); địa chỉ: 292 đường D, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Nhật T là đối tượng sống lang thang, không có nơi cư trú nhất định tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 10 giờ ngày 07/5/2021, T đang ngồi ở khu vực chân cầu B, quận Y thì có 01 đối tượng nam (không rõ lai lịch) đi bộ đến bắt chuyện rồi rủ T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý (bút lục: 35-39).

Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đi bộ đến trước số 63U U, Phường X, quận Y thì phát hiện có 01 xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 59S2-576.76 của ông Trần Phước L đang dựng trong sân sát cửa nhà tại địa chỉ trên, không người trông coi, trên xe còn cắm sẵn chìa khóa. Đối tượng đi chung đưa cho T 01 con dao (dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại) và nói T đi tới dắt xe ra, nếu có ai phát hiện, truy đuổi thì dùng dao đe dọa để chạy. Sau đó, đối tượng kia đứng trước cửa nhà số 63U U để cảnh giới và cản trở tầm nhìn của người trong nhà, còn T dắt lùi, quay đầu xe gắn máy biển số 59S2-576.76 hướng ra đường. T ngồi lên xe thì đối tượng kia cũng leo lên ngồi phía sau xe. Lúc này, bà Nguyễn Thị Liễu P là vợ ông L đang ở trong nhà phát hiện, tri hô trộm và chạy ra. T nổ máy, tăng ga nhưng bà P dùng tay giữ chặt ba lô của đối tượng ngồi sau nên xe không chạy được. T cố gắng tăng ga mạnh hơn để bỏ chạy thì xe bốc đầu làm cả ba người ngã văng ra. Bà P bị bất tỉnh, còn T định dựng xe dậy để chạy tiếp thì ông L từ trong nhà chạy ra ôm, vật T ngã ra đất. T vùng dậy được, móc dao ra cầm trên tay quơ, dọa tấn công ông L rồi T quay đầu bỏ chạy bộ đến bên hông quán cà phê L số 63 U, Phường X, quận Y thì bị ông Võ Anh T và ông Bùi Thành T1 chặn bắt, giao Công an Phường X, quận Y. Còn đối tượng đi chung với T thì tẩu thoát lúc nào không rõ, bỏ lại tại hiện trường 01 ba lô màu đỏ (bút lục: 35-39; 53; 56).

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Nhật T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 192/KLĐGTS-TCKH ngày 26/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 59S2-576.76 của ông Trần Phước L, tại thời điểm ngày 07/5/2021 trị giá 21.000.000 đồng (bút lục: 18).

- Vật chứng:

+ 01 ba lô màu đỏ có dây đeo, cao khoảng 50cm, ngang khoảng 30cm, bên trên có in chữ Lilan R. Bên trong có 02 nón màu đen, 01 võng màu xám trắng chấm bông đen, 01 áo mưa màu tím, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 đôi dép nhựa màu xanh, 01 khăn sọc màu xanh trắng đỏ đen. Đây là ba lô do đối tượng (không rõ lai lịch) đi chung với Đặng Nhật T bỏ lại (bút lục: 71).

+ 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 20cm, mũi dao bị gãy. Đây là con dao Đặng Nhật T dùng để đe dọa ông Trần Phước L (bút lục: 74).

+ 01 ba lô màu xám, bên trong có 01 võng màu xanh, 01 chăn màu đỏ, 01 hũ muối, 01 hũ đường, 01 chai tương ớt, 01 áo khoác màu xanh đen, 01 điện thoại Nokia X1 màu cam đen. Đây là ba lô của Đặng Nhật T (bút lục: 74).

+ 01 áo sơ mi màu xanh rêu, 01 quần jean dài màu xanh đen. Đây là trang phục Đặng Nhật T mặc khi phạm tội (bút lục: 76).

+ 01 nón vải mềm, có vành cứng phía trước, màu trắng bông xanh có dính nhiều vết máu khô. Đây là nón bà Nguyễn Thị Liễu P đội khi bị té ngã bất tỉnh (bút lục: 71).

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Air Blade 59S2-576.76. Qua xác minh người đứng tên đăng ký xe này là ông Trần Phước L. Hiện Cơ quan điều tra đã trả xe này cho ông L (bút lục: 14; 21; 78).

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Bà Nguyễn Thị Liễu P từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường do bị té ngã bất tỉnh (bút lục: 53; 56).

+ Ông Trần Phước L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác (bút lục: 21).

Bản cáo trạng số 160/CT-VKSBTh ngày 16 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Nhật T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Đặng Nhật T đã có hành vi trộm cắp tài sản.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Đặng Nhật T từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/5/2021, tại trước số 63U U, Phường X, quận Y, Đặng Nhật T đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 59S2-576.76 trị giá 21.000.000 đồng của ông Trần Phước L. Khi bị ông L và vợ là bà Nguyễn Thị Liễu P phát hiện, ngăn cản thì Thanh muốn tẩu thoát khỏi hiện trường, nên đã thực hiện hành vi rồ ga xe máy kéo theo bà P té ngã bất tỉnh và dùng dao quơ dọa tấn công ông Long.

Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Đặng Nhật T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Hành hung để tẩu thoát”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét thấy, bị cáo Đặng Nhật T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 59S2-576.76 trị giá 21.000.000 đồng của ông Trần Phước L. Khi bị chủ tài sản phát hiện, ngăn cản thì T hành hung để tẩu thoát khỏi hiện trường.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là ông Trần Phước L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Liễu P từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường do bị té ngã bất tỉnh nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 ba lô màu đỏ có dây đeo, cao khoảng 50cm, ngang khoảng 30cm, bên trên có in chữ Lilan R do đối tượng (không rõ lai lịch) đi chung với Đặng Nhật T bỏ lại, bên trong có 02 nón màu đen, 01 võng màu xám trắng chấm bông đen, 01 áo mưa màu tím, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 đôi dép nhựa màu xanh, 01 khăn sọc màu xanh trắng đỏ đen, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 20cm, mũi dao bị gãy. Đây là con dao Đặng Nhật T dùng để đe dọa ông Trần Phước L. Xét đây là công cụ của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 nón vải mềm, có vành cứng phía trước, màu trắng bông xanh có dính nhiều vết máu khô là nón của bà Nguyễn Thị Liễu P đội khi bị té ngã bất tỉnh, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 ba lô màu xám của Đặng Nhật T, bên trong có 01 võng màu xanh, 01 chăn màu đỏ, 01 hũ muối, 01 hũ đường, 01 chai tương ớt, 01 áo khoác màu xanh đen, 01 điện thoại Nokia X1 màu cam đen, 01 áo sơ mi màu xanh rêu, 01 quần jean dài màu xanh đen là trang phục Đặng Nhật T mặc khi phạm tội, là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T.

Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Đối với đối tượng cùng T trộm cắp xe gắn máy của ông Long hiện chưa rõ lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với việc bà Nguyễn Thị Liễu P bị Đặng Nhật T gây thương tích thì bà Phương đã từ chối giám định thương tích nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét xử lý hình sự đối với Thanh về hành vi này.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản” ;

Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Đặng Nhật T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù được tính từ ngày 08/5/2021.

2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 ba lô màu đỏ có dây đeo, cao khoảng 50cm, ngang khoảng 30cm, bên trên có in chữ Lilan R do đối tượng (không rõ lai lịch) đi chung với Đặng Nhật T bỏ lại, bên trong có 02 nón màu đen, 01 võng màu xám trắng chấm bông đen, 01 áo mưa màu tím, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 đôi dép nhựa màu xanh, 01 khăn sọc màu xanh trắng đỏ đen; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 20cm, mũi dao bị gãy; 01 nón vải mềm, có vành cứng phía trước, màu trắng bông xanh có dính nhiều vết máu khô.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Nhật T 01 ba lô màu xám, bên trong có 01 võng màu xanh, 01 chăn màu đỏ, 01 hũ muối, 01 hũ đường, 01 chai tương ớt, 01 áo khoác màu xanh đen, 01 điện thoại Nokia X1 màu cam đen, 01 áo sơ mi màu xanh rêu, 01 quần jean dài màu xanh đen.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

3. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Nhật T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ