- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 173 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNHPHỐHỒCHÍMINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2021/HSST Ngày: 26-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo, thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn T (tên gọi khác: L); sinh ngày 10 tháng 6 năm 1991 tại Thành phố H; Địa chỉ: 7/3D, ấp T, xã T, huyện M, Thành phố H; Chỗ ở: 21/5B, ấp 4, xã Đ, huyện C, Thành phố H. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Th và bà Trần Thị L; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: ngày 13/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (quyết định số 06/2016/QĐ-TA); Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 07/5/2021 cho đến nay (có đơn đồng ý xét xử vắng mặt).
2. Trương G (tên gọi khác: B); sinh ngày 24 tháng 4 năm 1985 tại Thành phố H; Địa chỉ: 28/2, ấp T, xã T, huyện M, Thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị Nh; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 09/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (quyết định số 05/2020/QĐ-TA). Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 05/5/2021 cho đến nay (có đơn đồng ý xét xử vắng mặt).
3. Huỳnh Đ; sinh ngày 19 tháng 6 năm 1997 tại tỉnh A; Địa chỉ: ấp C. xã B, huyện P, tỉnh G; Chỗ ở: 144/3D, ấp T, xã T Hiệp, huyện M, thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh N và bà Trần Thị T; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 23/6/2021 cho đến nay (có đơn đồng ý xét xử vắng mặt).
Bị hại:
1. Ông Nguyễn B, sinh năm 1974; Địa chỉ: 6104/3, đường Hồ Biểu Chánh, phường 11, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 69/8Y, ấp Thới Tây 2, xã T Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
2. Ông Kim S, sinh năm 1995; Địa chỉ: Âu Thọ A, xã V, huyện Ch, tỉnh S; Chỗ ở: 69/8Y, ấp T, xã T Hiệp, huyện M, Thành phố H (xin vắng mặt).
3. Ông Lê D, sinh năm 1989; Địa chỉ: 6/18, ấp 3, xã T, huyện B, Thành phố H; Chỗ ở: 69/8Y, ấp Th 2, xã T Hiệp, huyện M, Thành phố H (xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương V, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện T, Thành phố P (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ có mối quan hệ bạn bè và cùng nghiện ma túy đá, do không có tiền tiêu xài nên T và đồng phạm đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 18/5/2020, T điều khiển xe máy Luvias màu trắng (không rõ biển số) chở Tr (không rõ lai lịch) đi uống nước. Khi đi đến trước nhà số 168/2D, ấp Thới Tây 2, xã T Hiệp, huyện Hóc Môn; T phát hiện xe máy Honda Lead màu xanh nâu biển số 59E1-926.70 của ông Nguyễn B dựng trước nhà không người trông coi, trên xe vẫn cắm chìa khóa, công tắc xe mở, đèn vẫn sáng nên T rủ Tr lấy trộm thì Tr đồng ý. T đi bộ lại rồi leo lên xe biển số 59E1-926.70 nổ máy bỏ chạy, Tr cũng điều khiển xe Luvias màu trắng chạy theo T. T và Tr kiểm tra trong cốp xe vừa trộm được có giấy đăng ký xe, căn cước công dân, giấy phép lái xe bản chính đều mang tên Nguyễn B nên giữ lại để đem xe đi cầm.
Đến chiều ngày 19/5/2020, T và Tr mang xe Lead biển số 59E1-926.70 đến tìm Nguyễn Trường K thì gặp Nguyễn Q là em ruột của K. T điện thoại cho K nói có chiếc xe máy của bạn, xe chính chủ có giấy đăng ký xe bản chính nhờ cầm xe giùm thì K đồng ý và nhờ Ngô Quốc Th đi cầm xe dùm. Th mang xe Honda Lead đến tiệm cầm đồ C gặp anh Nguyễn Văn T là nhân viên, Th nói cầm xe giùm bạn, T xem xe và giấy tờ thì đồng ý cầm xe với giá 12.000.000 đồng, có làm hợp đồng cầm cố. Sau đó Th về và đưa cho T 12.000.000 đồng cùng hợp đồng cầm xe. T đưa cho Q số tiền 500.000 đồng nhờ Q đưa cho Th, còn hợp đồng T đã vứt bỏ. T chia cho Tr số tiền 4.000.000 đồng, còn lại 7.500.000 đồng T đã tiêu xài cá nhân hết.
Vào ngày 22/5/2020, qua kiểm tra hành chính tiệm cầm đồ C, Công an xã Xuân Thới Đông lập biên bản tạm giữ 01 xe máy hiệu Honda Lead biển số 59E1-926.70, 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân đều mang tên Nguyễn B do ông Lương Văn C là chủ tiệm cầm đồ giao nộp. Ngày 25/5/2020, ông B đến công an xã T Hiệp trình báo về việc mất trộm xe máy nêu trên.
Vụ thứ hai: khoảng 02 giờ ngày 27/4/2021, Đ phát hiện trước nhà trọ số 69/8Y, ấp Thới Tây 2, xã T Hiệp, huyện Hóc Môn có nhiều xe máy để trong hẻm không có người trông coi nên rủ T, G và Ti (không rõ lai lịch) đi lấy trộm thì T, G, Ti đồng ý. G mang theo 01 cây kìm sắt dài khoảng 30cm, T mang theo 01 túi vải màu đen bên trong chứa đoản, kìm các loại dùng để bẻ khóa xe máy. T điều khiển xe máy hiệu Exciter 135 màu đỏ (không rõ biển số) chở Ti; Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Wave Alpha màu xanh (không rõ biển số) chở G. Khi đến nơi, cổng nhà trọ không khóa, Ti và G đứng ngoài cảnh giới, Đ xuống xe kéo cửa sắt rồi cùng T đột nhập vào bên trong. Đ lấy móc quần áo bằng kim loại cột cửa ngoài phòng trọ có chiếc xe gắn máy hiệu Exciter 150 màu xanh biển số 83P3-628.02 của ông K dựng trước cửa, T dùng cây đoản bẻ khóa xe gắn máy Exciter, Đ đi ra ngoài chỗ G và Ti đang đứng lấy kìm cắt hai ổ khóa xe bánh sau và khóa đĩa bánh trước thì còi hú xe vang lên còn T tiếp tục dùng đoản bẻ công tác xe Wave RSX màu cam biển số 59N2-495.40 của ông D. Sau đó, T điều khiển xe máy Wave RSX màu cam đẩy Đ ngồi trên xe máy Exciter 150 màu xanh cùng G, Ti tẩu thoát. Khi ông K ở trong phòng ngủ nghe tiếng còi xe hú liền mở cửa kiểm tra nhưng cửa đã bị cột nên đã điện thoại báo Công an xã lập hồ sơ xử lý. Sự việc được camera an ninh của dãy nhà trọ ghi lại.
Trên đường tẩu thoát, T điện thoại cho một người tên Nắm (không rõ lai lịch) và nói có hai xe máy cần bán thì Nắm đồng ý mua và hẹn gặp ở bãi đất trống gần khi vực Ủy ban nhân dân xã T. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, có một thanh niên (không rõ lai lịch) đến coi xe và trả cho T 12.000.000 đồng rồi điều khiển xe đi. T chia đều cho Đ, G, Ti mỗi người 3.000.000 đồng. Đ, T đã xài hết. G còn lại 1.000.000 đồng.
Qua truy xét, ngày 29/4/2021 Cơ quan điều tra bắt giữ T, G. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn T G khai nhận hành vi phạm tội cùng với Đ, Ti. Đến ngày 23/6/2021, Đ bị mời về làm việc và cùng khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 04/6/2020 của Hội dồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Lead màu xanh nâu biển số 59E1-926.70, có giá trị: 28.000.000 đồng
Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu cam biển đen biển số 59N2-495.40, có giá trị: 10.000.000 đồng; 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen biển số 83P3-628.02, có giá trị 30.000.000 đồng; Tổng cộng số tiền 40.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
01 xe máy hiệu Honda Lead màu xanh nâu biển số 59E1-926.70, 01 giấy đăng ký xe, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn B. Đây là tài sản hợp pháp của ông B nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông B tiếp tục quản lý.
* Thu giữ của T công cụ để thực hiện hành vi phạm tội:
- 01 túi vải màu đen có chữ FIMAX kích thước 19cmx28cm;
- 01 bình xịt hơi cay màu xanh hiệu NATO hình trụ cao 14,5cm, có nắp bằng nhựa màu đen;
- 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 65cm;
- 01 cục phá sóng định vị xe gắn máy có quấn băng dính màu đen kích thước 5cm x 14,5cm;
- 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ JEEP ở tay cầm;
- 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ STAIN LESS STEEL ở tay cầm;
- 01 cây kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 22cm;
- 01 cây kim loại hình trụ dài khoảng 25cm, đường kính 2,5cm;
- 01 cây kim loại dài khoảng 12 cm có một đầu hình tròn đường kính 2,5cm;
- 01 đoản bằng kim loại dài khoảng 12cm, có một đầu bọc nhựa đen;
- 01 cục đá mài kích thước 1cm x 8,5cm;
- 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7,5cm;
- 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 8cm;
- 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7cm;
- 01 đầu đoản bằng kim loại dài 4,5cm;
- 01 đầu đoản bằng kim loại dài 7cm có chữ CR-V8mm;
- 01 thanh kim loại màu vàng hình vuông dài khoảng 5cm;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng;
* Thu giữ của G: số tiền 1.000.000 đồng, là tiền do G phạm tội mà có;
* Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường vụ án:
- 01 móc phơi quần áo;
- 01 ổ khóa.
* Thu giữ khi khám xét chỗ ở của T, G; trang phục mặc khi thực hiện hành vi phạm tội:
- 01 quần Jean dài màu xanh;
- 01 nón bảo hiểm màu đen;
- 01 đôi dép kẹp màu xanh hiệu Fendi;
- 01 áo khoác dài tay màu cam;
- 01 áo khoác dài tay màu đen;
- 01 quần dài ngang đầu gối màu xám đen;
Về dân sự: ông K yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000 đồng; Ông D yêu cầu bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Ông B đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu. Ông C chưa có yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số 137/VKS-HS ngày 19/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Trương G, Huỳnh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại bản tự khai ngày 17/11/2021, ông B không có yêu cầu bồi thường do đã nhận lại tài sản.
Tại bản tự khai ngày 17/11/2021, ông K yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen biển số 83P3-628.02 theo giá của Hội đồng định giá là 30.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 18/11/2021, ông D yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu cam biển đen biển số 59N2-495.40 theo giá của Hội đồng định giá là 10.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 23/11/2021, ông C yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền cầm xe là 12.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại đơn đồng ý xét xử vắng mặt, các bị cáo T, G, Đ đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo T, G, Đ có đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T 03 (ba) năm 06 tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo G 02 (hai) năm 06 tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tù; bị cáo Đ 02 (hai) năm 06 tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tù.
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo về việc bồi thường dân sự.
Đối với đối tượng tên Tr là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với T vào ngày 18/5/2020; do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét, xử lý sau.
Đối với K, Q, Th khi được T nhờ mang xe máy hiệu Lead biển số 59E1-926.70 đi cầm không biết là tài sản do T trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với C là chủ tiệm cầm đồ C, T là nhân viên khi cầm xe máy hiệu Lead biển số 59E1-926.70 không biết là tài sản do T trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với đối tượng tên Ti là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với T, G, Đ vào ngày 27/4/2021; đối tượng tên Nắm là người mua xe phạm tội của T; do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy : 01 túi vải màu đen có chữ FIMAX kích thước 19cmx28cm; 01 bình xịt hơi cay màu xanh hiệu NATO hình trụ cao 14,5cm, có nắp bằng nhựa màu đen; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 65cm; 01 cục phá sóng định vị xe gắn máy có quấn băng dính màu đen kích thước 5cm x 14,5cm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ JEEP ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ STAIN LESS STEEL ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 22cm; 01 cây kim loại hình trụ dài khoảng 25cm, đường kính 2,5cm; 01 cây kim loại dài khoảng 12 cm có một đầu hình tròn đường kính 2,5cm; 01 đoản bằng kim loại dài khoảng 12cm, có một đầu bọc nhựa đen; 01 cục đá mài kích thước 1cm x 8,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 8cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 4,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 7cm có chữ CR-V8mm; 01 thanh kim loại màu vàng hình vuông dài khoảng 5cm; 01 móc phơi quần áo; 01 ổ khóa; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 đôi dép kẹp màu xanh hiệu Fendi; 01 áo khoác dài tay màu cam; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần dài ngang đầu gối màu xám đen
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng;
Đối với số tiền 1.000.000 đồng, là tiền do G phạm tội mà có; Bị cáo G đã tự nguyện bồi thường cho bị hại nên trả lại cho G. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo T, G, Đ phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo T, G, Đ trong đơn đồng ý xét xử vắng mặt thể hiện là đã ăn năn về hành vi phạm tội và xin được hưởng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại đơn đồng ý xét xử vắng mặt, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi xem xét đơn đồng ý xét xử vắng mặt đã thể hiện các bị cáo T, G, Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo T đã có hành vi cùng đồng bọn nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác với giá trị tài sản lần 1 là 28.000.000 đồng, lần 2 là 40.000.000 đồng. Do đó, bị cáo T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Các bị cáo G, Đ đã có hành vi cùng đồng bọn trộm cắp tài sản của người khác với giá trị tài sản là 40.000.000 đồng. Các bị cáo bàn bạc, phân công, thống nhất cùng thực hiện hành vị phạm tội. Cụ thể: T chuẩn bị công cụ, phương tiện cùng Đ bẻ khóa xe, trực tiếp liên hệ người mua xe; G làm nhiệm vụ cảnh giới..; Do đó, các bị cáo G, Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo T, G, Đ biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Các bị cáo T, G, Đ đã xâm phạm đến quyền tài sản của người khác được Nhà nước bảo hộ; ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục các bị cáo T, G, Đ và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T có nhân thân xấu: Nhân thân: ngày 13/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (quyết định số 06/2016/QĐ-TA)
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo về việc bồi thường dân sự.
Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên Tr là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với T vào ngày 18/5/2020; do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét, xử lý sau.
Đối với K, Q, Th khi được T nhờ mang xe máy hiệu Lead biển số 59E1-926.70 đi cầm không biết là tài sản do T trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Cảnh là chủ tiệm cầm đồ C, T là nhân viên khi cầm xe máy hiệu Lead biển số 59E1-926.70 không biết là tài sản do T trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với đối tượng tên Ti là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với T, G, Đ vào ngày 27/4/2021; đối tượng tên Nắm là người mua xe phạm tội của T; do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy : 01 túi vải màu đen có chữ FIMAX kích thước 19cmx28cm; 01 bình xịt hơi cay màu xanh hiệu NATO hình trụ cao 14,5cm, có nắp bằng nhựa màu đen; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 65cm; 01 cục phá sóng định vị xe gắn máy có quấn băng dính màu đen kích thước 5cm x 14,5cm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ JEEp ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ STAIN LESS STEEL ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 22cm; 01 cây kim loại hình trụ dài khoảng 25cm, đường kính 2,5cm; 01 cây kim loại dài khoảng 12 cm có một đầu hình tròn đường kính 2,5cm; 01 đoản bằng kim loại dài khoảng 12cm, có một đầu bọc nhựa đen; 01 cục đá mài kích thước 1cm x 8,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 8cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 4,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 7cm có chữ CR-V8mm; 01 thanh kim loại màu vàng hình vuông dài khoảng 5cm; 01 móc phơi quần áo; 01 ổ khóa; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 đôi dép kẹp màu xanh hiệu Fendi; 01 áo khoác dài tay màu cam; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần dài ngang đầu gối màu xám đen.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng;
Đối với số tiền 1.000.000 đồng, là tiền do G phạm tội mà có; Bị cáo G đã tự nguyện bồi thường cho bị hại nên trả lại cho G. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ phải chịu án phí hình sự, sơ thẩm sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn T 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2021
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Trương G 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2021
Xử phạt bị cáo Huỳnh Đ 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2021
- Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật hình sự
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ Điều 585 Bộ luật dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ bồi thường cho ông K yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen biển số 83P3-628.02 theo giá của Hội đồng định giá là 30.000.000 đồng. Mỗi bị cáo bồi thường cho ông K số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ bồi thường cho ông D giá trị 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu cam biển đen biển số 59N2-495.40 theo giá của Hội đồng định giá là 10.000.000 đồng. Mỗi bị cáo bồi thường cho ông D số tiền 3.334.000 (ba triệu ba trăm ba mươi bốn ngàn) đồng, thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn T bồi thường cho ông Lương Văn C số tiền cầm xe là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải màu đen có chữ FIMAX kích thước 19cmx28cm; 01 bình xịt hơi cay màu xanh hiệu NATO hình trụ cao 14,5cm, có nắp bằng nhựa màu đen; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 65cm; 01 cục phá sóng định vị xe gắn máy có quấn băng dính màu đen kích thước 5cm x 14,5cm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ JEEp ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại màu bạc có chữ STAIN LESS STEEL ở tay cầm; 01 cây kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 22cm; 01 cây kim loại hình trụ dài khoảng 25cm, đường kính 2,5cm; 01 cây kim loại dài khoảng 12 cm có một đầu hình tròn đường kính 2,5cm; 01 đoản bằng kim loại dài khoảng 12cm, có một đầu bọc nhựa đen; 01 cục đá mài kích thước 1cm x 8,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 8cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 7cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 4,5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại dài 7cm có chữ CR-V8mm; 01 thanh kim loại màu vàng hình vuông dài khoảng 5cm; 01 móc phơi quần áo; 01 ổ khóa; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 đôi dép kẹp màu xanh hiệu Fendi; 01 áo khoác dài tay màu cam; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần dài ngang đầu gối màu xám đen. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2021.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2021;
Số tiền 1.000.000 đồng, là tiền do G phạm tội mà có, hiện đang giữ tại tại tài khoản số 3949.0.9061672 tại kho bạc Nhà nước của Công an huyện Hóc Môn. Bị cáo G đã tự nguyện bồi thường cho bị hại nên trả lại cho G. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trương G, Huỳnh Đ mỗi bị cáo chịu án phí dân sự sơ thẩm là 666.700 (sáu trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo Nguyễn T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.266.700 (một triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Các bị cáo Nguyễn T, Trương G, Huỳnh Đ mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cương chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Sở tư pháp TP.HCM - VKSND H.HM; - Chi Cục THADS H.HM; - Công an H.HM - UBND xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TpHCM; - UBND xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An G - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, HS. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm |