vanban.org

Bản án 118/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 20/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2021/HS-ST
Ngày:
20/9/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duẫn, ông Trần Việt.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2021/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L; sinh năm 1996; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; trú tại Thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và bà Nguyễn Thị X (đã chết); vợ, con: Chưa có; bị cáo có 03 tiền án, gồm: Ngày 19/11/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 05 năm 06 tháng tù về các tội cướp tài sản và cố ý gây thương tích (bản án số 103/2012/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2016, chưa được xóa án tích. Ngày 05/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (bản án số 37/2017/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2017, chưa được xóa án tích. Ngày 28/3/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (bản án số 28/2019/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/8/2020, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Ngày 06/10/2016, bị Công an thành phố Bảo Lộc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi đánh nhau (Quyết định số 131/QĐ-XPHC), đến nay chưa nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bảo Lộc từ ngày 04/6/2021 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

1. Anh Vũ Minh Th, sinh năm 1989; xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

2. Ông Huỳnh Kim H, sinh năm 1964; quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt). Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Văn L, sinh năm 1986; trú tại: xã Đ1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị Lê Thị Bảo L, sinh năm 2002; trú tại: xã Đ1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

2. Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1998; trú tại: xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L là đối tượng có nhiều tiền án về các tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích; vào các ngày 09/02/2021 và 28/5/2021 bị cáo lại thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 09/02/2021, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wawe X, biển số 51T7-7643 của ông Nguyễn Văn B (là cha bị cáo L) đi đến nhà X xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng do anh Vũ Minh Th làm chủ. L quan sát thấy trong vườn có nhiều giò lan mà không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Để thực hiện hành vi, L dựng xe bên ngoài rồi trèo qua tường vào trong trộm cắp 08 giò lan loại “Trầm rồng đỏ”. Sau đó L mang về nhà bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1955, trú tại: xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (là bà nội của L) cất giấu ở sau vườn. Nghi ngờ L trộm cắp tài sản, vào ngày 17/02/2021, Công an xã Đ, thành phố B triệu tập bị cáo L đến làm việc, tại đây bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với 08 giò lan bị cáo L cất giấu tại nhà bà Đ, ngày 17/02/2021, bị cáo L phát hiện bị mất 04 giò, chỉ còn lại 04 giò.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 25/02/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc thì 04 giò lan loại “Trầm rồng đỏ” trị giá là 1.500.000 đồng. Đối với 04 giò lan bị mất, không đủ cơ sở để định giá.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 28/5/2021, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 49K1-714.09 chở chị Lê Thị Bảo L, sinh năm 2002, trú tại: xã Đ1, thành phố B (là người yêu của Nguyễn Văn L), còn anh Đoàn Văn H, sinh năm 1998, trú tại xã Đ, thành phố B thì đi một mình trên một xe khác. Cả ba người cùng đi từ nhà chị Lê Thị Bảo L tại xã Đ1 về xã Đ, cùng thuộc thành phố B.

Khi ba người đi đến vườn nhà ông Huỳnh Kim H, tại xã Đ, thành phố B thì Nguyễn Văn L dừng lại, thấy vậy anh H và chị L có hỏi “dừng lại làm gì” thì bị cáo L trả lời “vô kiếm mít ăn”. Sau đó Nguyễn Văn L trèo qua hàng rào lưới B40 vào trong vườn, còn chị L và anh H đứng bên ngoài đợi.

Khi Nguyễn Văn L vào trong vườn thì thấy trong chòi canh có 01 chiếc máy cắt cỏ hiệu Yakata. Quan sát thấy không có người trông coi nên Nguyễn Văn L đã trộm cắp chiếc máy cắt cỏ trên mang ra bên ngoài. Khi nhìn thấy Nguyễn Văn L cầm chiếc máy đi ra, anh H và chị L có hỏi “chiếc máy này ở đâu” thì Nguyễn Văn L trả lời “thấy chiếc máy để trong kia nên lấy về”. Đồng thời Nguyễn Văn L đưa chiếc máy qua hàng rào thì được chị L đến đỡ chiếc máy đặt xuống đất. Sau đó Nguyễn Văn L trèo qua hàng rào đi ra ngoài, đến cầm chiếc máy cắt cỏ đưa cho chị L vác lên vai, rồi Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô chở chị L cùng chiếc máy cắt cỏ đi về nhà của Nguyễn Văn L tại xã Đ, thành phố B cất giấu. Nhận được tin báo, Công an xã Đ1, thành phố B đã mời chị Lê Thị Bảo L đến làm việc, tại đây chị L đã khai nhận toàn bộ sự việc, sau đó Công an xã Đ1 đã đến nhà Nguyễn Văn L thu giữ chiếc máy cắt cỏ nói trên trả cho bị hại.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 03/6/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bảo Lộc thì chiếc máy cắt cỏ hiệu Yakata, loại CS33A trị giá 400.000đ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 04 giò lan “Trầm rồng đỏ” cho anh Vũ Minh Th, trả lại 01 chiếc máy cắt cỏ cho ông Huỳnh Kim H, trả lại 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Blade, biển số 49K1-714.09 cho bà Cao Thị Ch. Riêng 04 giò lan “Trầm rồng đỏ” bị mất nên Cơ quan đều tra không thu hồi được. Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Minh Th và ông Huỳnh Kim H không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 137/CT-VKSBL, ngày 16 tháng 8 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 24 đến 30 tháng tù. Xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

Bị cáo Lộc khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật

Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, vào ngày 09/02/2021, bị cáo Nguyễn Văn L đã lén lút bí mật trộm cắp 08 giò lan, loại “Trầm rồng đỏ”, của anh Vũ Minh Th, tại xã L, thành phố B mang đi cất dấu, sau đó bị mất 04 giò, còn lại 04 giò qua định giá xác định giá trị tài sản là 1.500.000 đồng. Tiếp đó, ngày 28/5/2021, bị cáo Nguyễn Văn L lại tiếp tục trộm cắp 01 chiếc máy cắt cỏ hiệu Yakata, loại CS33A của ông Huỳnh Kim H, tại xã Đ1, thành phố B, có trị tài sản là 400.000 đồng. Tuy giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần đều dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo Nguyễn Văn L là người đã có tiền án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích lại phạm tội. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn L là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức; bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền sự và 03 tiền án về các tội cướp tài sản và trộm cắp tài sản, đến nay chưa được xóa án tích lại phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tuy bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần đều dưới 2.000.000 đồng, mà bị cáo phạm tội là do có tiền án nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” hoặc “tái phạm”. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này còn có chị Lê Thị Bảo L, đã có hành vi giúp sức cho bị cáo Nguyễn Văn L trộm cắp chiếc máy cắt cắt cỏ của ông Vũ Minh Th. Tuy nhiên, do giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng mà chị Lê Thị Bảo L là người chưa có tiền án, tiền sự về tội chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng đối với chị L là phù hợp.

Đối với anh Đoàn Văn H, là người đi cùng với bị cáo Nguyễn Văn L đến địa điểm trộm cắp, tuy nhiên anh H không có hành vi nào giúp sức cho bị cáo Nguyễn Văn L nên không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu hồi 04 giò lan và 01 chiếc máy cắt cỏ trả lại cho bị hại nên không đề cập đến. Riêng đối với chiếc xe mô tô biển số 49K1-714.09, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Cao Thị Ch. Khi cho bị cáo L mượn xe bà Ch không biết bị cáo L sử dụng phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ch chiếc xe trên là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Minh Th và ông Huỳnh Kim H là người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo L hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

Về án phí: Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2021.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ