vanban.org

Bản án 118/2021/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 02/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015.

C n cứ Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ng Nguy n Phước B .

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "T/c hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”."
  • Tòa quyết gì? C n cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:118/2021/DS-PT
Ngày: 02 -12 - 2021
V/v “T/c hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ và thực hiện nghĩa vụ về
tài sản do người chết để lại”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: ng B i V n B nh

Các Thẩm phán:

Ông Nguy n Vi t H ng

ng B i Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà V n Chuyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 11 và ngày 02 tháng 12 n m 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 206/2020/TLPT-DS ngày 10/12/2020 về việc:“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ ng oài bị kháng cáo và kháng nghị. Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐ-PT ngày 09/4/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ng Nguy n Phước B , sinh n m 1970 (có mặt).

Địa chỉ: T 03, khu phố , phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước.

- Bị đơn:

1. Bà Nguy n Thị Thu C , sinh n m 1970 (có mặt).

2. ng Nguy n V n U , sinh n m 1961 (có mặt).

C ng địa chỉ: T 02, khu phố Ph, phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước .

Người ảo vệ quyền lợi ch hợp pháp cho bà C : ng Trịnh Đắc H , sinh n m 1988; V n phòng luật sư H và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh B nh Phước; Địa chỉ: số 751 quốc lộ 14, phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước (có mặt).

3. Bà Lê Thị Thu Nga, sinh n m 1972 (có mặt).

Hộ khẩu thư ng trú: T 02, khu phố Ph, phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước ; Địa chỉ nơi ở: 160 Ng, phư ng Ph, Quận 7, tp. H Chí Minh.

4. Bà Nguy n Thị Thu Ng, sinh n m 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: 9149 Beaver Valley Lane Cordova, TN, United States.

5. Ông Lê Bá Nh , sinh n m 1952 (vắng mặt).

Địa chỉ: 273 M, phư ng T, Quận 7, tp. H Chí Minh

6. ng Nguy n V n H, sinh n m 1963 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 10, xã Q, huyện T, tỉnh Đ k Nông.

Bà Nguy n Thị Thu Ng , Ông Lê Bá Nh và ng Nguy n V n H ủy quyền cho bà Lê Thị Thu Ng (có mặt).

7. Bà Nguy n Thị C (Nguy n Thị Út), sinh n m 1966 (có mặt).

Địa chỉ: T 02, khu phố Ph, phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước .

Người ảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp c a à Nguy n Thị U (câm): Bà Hoàng Thị Hà trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B nh Phước (có mặt).

Người phiên dịch cho bà C : Bà Nguy n Thị Th y D, địa chỉ: Trư ng giáo dục chuyên biệt B thành phố Đ , tỉnh B nh Phước (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị Kim Đ , sinh n m 1970

Địa chỉ: khu phố , phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước

Người đại diện theo y quyền c a ng Nguy n hư c B , à V Thị im Đ là ng Dương Viết Đ sinh năm 1956.

Địa chỉ: Khu phố , phư ng T, thành phố Đ, tỉnh B nh Phước

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ng Nguy n hư c B ; ị đơn ng Nguy n Văn U, à ê Thị Thu Ng , à Nguy n Thị Thu .

- háng nghị c a Viện kiểm sát nhân dân t nh B nh hư c.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ông Nguy n hư c B trình bày: Vào ngày 26/8/2004, giữa ông B với bà Nguy n Thị L , sinh n m 1928 có lập giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất vi t tay, nội dung: ông B nhận chuyển nhượng của bà L 150m2 diện tích đất nông nghiệp, tại khu phố Ph, phư ng T, thị xã Đ (nay là khu phố Phước Tân, phư ng Tân Thiện, thành phố Đ , tỉnh B nh Phước) với số tiền là 35.000.000đ, ông B đã giao đủ tiền cho bà L và bà L cũng đã chỉ móc ranh giới giao đất cho ông B . N m 2017, bà L ch t, đ n tháng 04/2018 ông B đ n khu đất nói trên để phát cỏ, làm nhà th phát sinh tranh chấp với các con bà Lang. Nay ông B yêu cầu hủy giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất vi t tay ngày 26/8/2004 giữa ông B với bà Nguy n Thị L và yêu cầu những ngư i thừa k hàng thứ nhất là các con của bà L phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản trả lại số tiền nhận sang nhượng đất, b i thư ng thiệt hại 70% giá trị đất thực t khi hợp đ ng bị vô hiệu.

Người đại diện theo y quyền cho ị đơn Bà Nguy n Thị Thu và Ông Nguy n Văn U là à Nguy n Ngọc Di m H trình bày:

Bà Nguy n Thị L có 07 ngư i con g m: Bà Nguy n Thị Thu C , bà Lê Thị Thu Nga, Bà Nguy n Thị Thu Ng , bà Nguy n Thị C , Ông Lê Bá Nh , ng Nguy n V n U và ng Nguy n V n H. N m 2004, bà L bán đất cho ông B thì bà C , ông U không bi t, bà L không bi t chữ và cũng không bi t số tiền bao nhiêu. N m 2018, ông B có đ n cắm cọc trên đất th bà C , ông U cũng như các con của bà L không đ ng ý; bà L đã ch t vào n m 2017, phần diện tích đất này cũng nằm trong di sản thừa k của các con bà Lang, diện tích đất này mang tên hộ chứ không riêng một m nh của bà Lang. Hơn nữa, giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Phước B không thể hiện diện tích tứ cận, vị trí ở đâu, phương thức thanh toán, th i hạn thanh toán, không thể hiện việc các bên giao tiền nhận đất, giao nhận tiền hay chưa, giấy sang nhượng đất không có công chứng chứng thực theo quy định pháp luật, còn dấu vân tay điểm chỉ bên phần ngư i bán có phải của bà L hay không thì bà C , ông U không bi t.

Bà C , ông U yêu cầu hủy giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất nói trên và không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn à ê Thị Thu Ng đồng thời là người đại diện theo y quyền c a các ị đơn Bà Nguy n Thị Thu Ng , Ông Lê Bá Nh và Ông Nguy n Văn H trình bày:

Bà Nguy n Thị Thu C , bà Lê Thị Thu Nga, Bà Nguy n Thị Thu Ng , bà Nguy n Thị C , Ông Lê Bá Nh , ng Nguy n V n U và ng Nguy n V n H đều là các con đẻ của bà Nguy n Thị L . N m 2004, bà L bán đất cho ông B thì bà Nga, bà Nguyệt, ông Nhàn, ông H ng không bi t và cũng không bi t số tiền bao nhiêu, bà L không bi t chữ. N m 2018, ông B có đ n cắm cọc trên đất th chúng tôi không đ ng ý; bà L đã ch t vào n m 2017, phần diện tích đất này cũng nằm trong di sản thừa k của các con bà Lang, diện tích đất này mang tên hộ chứ không riêng một m nh của bà Lang. Hơn nữa, giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Phước B không thể hiện diện tích tứ cận, vị trí ở đâu, phương thức thanh toán, th i hạn thanh toán, không thể hiện việc các bên giao tiền giao nhận đất hay chưa, giấy sang nhượng đất không có công chứng chứng thực theo quy định pháp luật, còn dấu vân tay điểm chỉ bên phần ngư i bán có phải của bà L hay không thì bà Nga, bà Nguyệt, ông Nhàn, ông H ng không bi t.

Bà Nga, yêu cầu hủy giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất nói trên và không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà V Thị im Đ trình bày: Bà Đính thống nhất như phần tr nh bày của ông B và không trình bày gì thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng oài đã quyết định:

Chấp nhận một phần khởi kiện nguyên đơn của ng Nguy n Phước B Tuyên hủy giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Phước B ;

Bà Nguy n Thị Thu C có nghĩa vụ thanh toán cho ng Nguy n Phước B số tiền là 130.500.000đ ng (Một trăm a mươi triệu năm trăm ngàn đồng); Ông Nguy n V n U có nghĩa vụ thanh toán cho ng Nguy n Phước B số tiền là 130.500.000đ ng(Một trăm a mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án ph nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo c a các đương sự theo luật định.

Ngày 30/10/2021, nguyên đơn ông Nguy n Phước B nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước sửa Bản án sơ thẩm theo hướng xác định l i của các bên trong việc bà Lang sang nhượng đất cho ông B nh hoặc ti p tục thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng đất cho ông B nh.

Ngày 04/11/2020, ông Nguy n V n U nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Ngày 04/11/2020, bà Lê Thị Thu Ng nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Ngày 04/11/2020, bà Nguy n Thị Thu C nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Ngày 23/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước kháng nghị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B nh Phước xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn ông B nh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.

- Bị đơn ông Nguy n V n U, bà Lê Thị Thu Ng , bà Nguy n Thị Thu C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá tr nh giải quy t vụ án của Tòa án từ khi thụ lý đ n khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đ ng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quy t vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông B ; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông U , bà C , bà Ng và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước và giao h sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

C n cứ vào tài liệu, chứng cứ trong h sơ vụ án và k t quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguy n Phước B nh, các bị đơn Ông Nguy n V n U , bà Lê Thị Thu Nga, bà Nguy n Thị Thu Cúc và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước làm trong th i hạn luật định, h nh thức và nội dung ph hợp các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự n m 2015 nên đủ điều kiện xem xét giải quy t theo tr nh tự phúc thẩm.

[2] ét yêu cầu kháng cáo của ông B nh, ông U, bà Nga, bà Cúc và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước, Hội đ ng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Về ngu n gốc đất tranh chấp trong giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Phước B phần đất trên có ngu n gốc do Nhà nước phân cho gia đ nh bà Nguy n Thị L vào n m 1975 do gia đ nh bà L đi kinh t mới. Hiện nay phần đất này tọa lạc tại khu phố Phước Tân, phư ng Tân Thiện, thành phố Đ , tỉnh B nh Phước lúc đi kinh t mới gia đ nh bà L có 7 ngư i con sau đó các con bà L lần lượt có gia đ nh và ra ở riêng, không ở chung với bà Lang. Do đó, bà L đã tự bán phần đất trên cho nhiều ngư i (g m bà Nguy n Thị Li u, ông Nguy n Mạnh H ng và đ n n m 2004 bà L ti p tục chuyển nhượng cho ng Nguy n Phước B một phần đất có diện tích 5m x 30m = 150m2 với giá 35 triệu đ ng và bà L đã giao đất cho ông B quản lý cho đ n nay (có cắm mốc đất giao cho ông B ). Hằng n m ông B đều phát dọn mặc d ông B chưa xây dựng công tr nh g trên đất nói trên. N m 2017 bà L ch t, n m 2018 thì xảy ra tranh chấp với các con bà Lang, do n m 2018 ông B ti n hành dọn dẹp thì các con bà L cản trở. Sự việc đã được Ủy ban nhân dân phư ng Tân Thiện giải quy t không thành và h sơ được chuyển đ n Tòa án nhân dân thành phố Đ . Sau khi xét xử sơ thẩm cả nguyên đơn và bị đơn đều kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đều giữ nguyên kháng cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước giữ nguyên kháng nghị.

ét thấy, qua phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa phúc thẩm thấy rằng phần đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ ng Phú cấp giấy chứng nhận số 00289/QSDĐ/454/1998/QĐ-UB ngày 26/10/1998 cho hộ bà Nguy n Thị L có diện tích 4280m2 đ n ngày 07/7/2005 bà L được Ủy ban nhân dân thị xã Đ ng oài cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB865472 với diện tích 1710.5 m2 v vậy, bà L có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực t bà L đã chuyển nhượng cho nhiều ngư i trong đó có ông B và ngày 26/8/2004. Tuy nhiên, các con của bà L đã có gia đ nh và ra ở riêng, bà L sinh sống với ngư i con út (Nguy n Thị Câm) và bà đã sang nhượng cho nhiều ngư i để lấy tiền sinh sống tại phiên tòa các bị đơn đều thừa nhận bà L lúc còn sống khi sang nhượng đất th không chia tiền cho các con mà bà L d ng tiền đó để sinh sống. Đối với phần đất bà L sang nhượng cho ông B các bị đơn không thừa nhận đó là vân tay của bà Lang. tuy nhiên, tại K t luận giám định số 38/2020/QĐĐV ngày 07/8/2020 của phòng kỹ thuật h nh sự công an tỉnh B nh Phước khẳng định “dấu vân tay màu đỏ bên trái của ngư i bán trong giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với Ông Nguy n Phước B (ký hiệu A1) với dấu vân tay ngón trỏ phải trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) do Tòa án nhân dân thành phố Đ cung cấp là của c ng một ngư i). V vậy, có c n cứ cho rằng ngày 26/8/2004 bà L có chuyển nhượng cho ng Nguy n Phước B một phần đất có diện tích 5m x 30m = 150m2 đất với giá 35 triệu đ ng. Hơn nữa sự việc này còn được khẳng định bởi ông Hoàng V n Bé đội trưởng ký xác nhận việc sang nhượng và tại l i khai ông Bé khẳng định lúc đó bà L đã giao đất cho ông B sử dụng từ n m 2004 đ n khi bà L mất mới xảy ra tranh chấp. Việc sang nhượng của ông B và bà L còn có ông Nguy n Mạnh H ng là ngư i sang nhượng đất của bà L cũng bi t và ông Đào Đ nh Chí cán bộ địa chính phư ng Tân Thiện lúc đó cũng bi t. Hơn nữa, lúc sang nhượng đất các con của bà L là bà C , ông U cũng ở gần đó. Sự việc sang nhượng đã nhiều n m khi bà L còn sống không xảy ra tranh chấp đ n khi bà L ch t n m 2017 và n m 2018 th mới tranh chấp. Các bị đơn không thừa nhận việc bị đơn sang nhượng đất cho ông B và cho rằng dấu vân tay không phải của bà L đã điểm chỉ vào giấy sang nhượng cho nên không đ ng ý trả lại giá trị tài sản thành tiền theo thực t hiện nay cho ông B . Tại phiên tòa phúc thẩm các bị đơn và ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cũng không đ ng ý với án sơ thẩm. Tuy nhiên, phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của m nh để khẳng định không có việc sang nhượng đất đai của bà L đã sang nhượng cho ông B . Hơn nữa qua việc giám định của (cơ quan) phòng kỹ thuật h nh sự xác định dấu vân tay trong giấy chuyển nhượng bên chuyển nhượng là dấu vân tay của bà Lang. Việc các bị đơn cho rằng bà L không chuyển nhượng đất cho ông B là không có cơ sở để chấp nhận là cố t nh không muốn trả tiền theo giá trị thực t và không giao đất cho ông B sử dụng. Hơn nữa, bà C , ông U và 1 số ngư i con của bà L cũng ở gần đất mà bà L sang nhượng cho ông B nhiều n m qua ông B hàng n m đ n dọn dẹp những ngư i này đều không có ý ki n g (sự việc có ông Nguy n Mạnh H ng là ngư i c ng sang nhượng đất của bà Lang, ông Chí là cán bộ địa chính, ông Hoàng V n Bé lúc đó là đội trưởng đều bi t). V vậy, có c n cứ cho rằng các con của bà L đều bi t bà L khi còn sống đã sang nhượng cho ông B phần đất trên. Do đó, kháng cáo của các bị đơn là không có c n cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo của ng Nguy n Phước B thấy rằng việc sang nhượng đất giữa ông B và bà L hai bên chỉ làm giấy t tay với nhau từ ngày 26/8/2004. Tuy nhiên, phần đất trên ông B đã được bà L bàn giao bàn giao và cắm mốc phần đất đã sang nhượng cho ông B . Mặc d hàng n m ông B đã dọn dẹp các con bà L đều bi t nhưng không có ý ki n g . Hơn nữa hiện tại ông B khởi kiện đề nghị Tòa án chấp nhận giấy mua bán chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Phước B . Thấy rằng giấy sang nhượng đất trên mặc d là giấy tay nhưng thực t 02 bên đã giao nhận tiền và đất với nhau từ ngày 26/8/2004 lúc bà L còn sống, các con bà L không có ý ki n g . Ngoài ra, việc này còn có nhiều ngư i bi t như đã nhận định ở phần trên. Qua làm việc với đại diện Ủy ban nhân dân phư ng Tân Thiện, thành phố Đ cũng khẳng định việc sang nhượng của 02 bên là có thực. Hiện tại phần đất trên không nằm trong khu quy hoạch của phư ng, thành phố và là khu dân cư với diện tích 5mx30m = 150m2 là đủ điều kiện tách s . Với điều kiện là phía nguyên đơn phải chuyển đ i mục đích sử dụng, nộp thu theo quy định của pháp luật về đất đai. Hơn nữa tại Công v n số 594/UBND ngày 23/4/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố Đ cũng khẳng định phần đất trên đủ điều kiện để tách s . Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn cũng chấp nhận sẽ làm đủ nghĩa vụ của m nh đối với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đ chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn mà chỉ buộc bà C và ông U phải có trách nhiệm b i thư ng cho ông B là chưa phù hợp với pháp luật. Do đó, cần sửa án sơ thẩm buộc các đ ng thừa k của bà L phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đ ng chuyển nhượng đất giao phần đất mà bà L đã chuyển nhượng cho ông B vào ngày 26/8/2004 có sơ đ kèm theo (do bà L đã ch t vào n m 2017).

Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước đề nghị hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, những vi phạm trên đã được cấp phúc thẩm khắc phục. V vậy, không cần thi t phải hủy án sơ thẩm mà chỉ cần sửa án là ph hợp.

[3] n phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông B , bà C , ông U, bà Ng không phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của ngư i bảo vệ quyền và ích hợp pháp của C, bà C và các bị đơn đều đề nghị Hội đ ng xét xử hủy bản án sơ thẩm và giao h sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung là không có c n cứ không được Hội đ ng xét xử chấp nhận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không được Hội đ ng xét xử chấp nhận.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015.

C n cứ Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ng Nguy n Phước B .

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn ông Nguy n V n U, bà Lê Thị Thu Ng , bà Nguy n Thị Thu C .

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B nh Phước.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

C n cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

C n cứ Điều 615 Bộ luật dân sự n m 2015.

C n cứ Điều 131, 133, 137, 139, 400, 705, 707 Bộ luật dân sự n m 1995;

C n cứ Điều 127, Điều 136 luật đất đai n m 2003.

C n cứ Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai; Nghị quy t số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của HĐTPTANDTC.

C n cứ Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ng Nguy n Phước B buộc các con của bà Nguy n Thị L (hiện bà L đã ch t) phải ti p tục thực hiện hợp đ ng mua bán chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/8/2004 giữa bà Nguy n Thị L bên chuyển nhượng với ng Nguy n Phước B bên nhận chuyển nhượng.

Buộc các con của bà L là ngư i k thừa quyền và nghĩa vụ g m: ng Nguy n V n U, bà Lê Thị Thu Ng , bà Nguy n Thị Thu C , Bà Nguy n Thị C (Út), Bà Nguy n Thị Thu Ng , Ông Lê Bá Nh , Ông Nguy n V n H phải có trách nhiệm tách s cho ng Nguy n Phước B phần đất có diện tích 5m x 30m = 150m2 tọa lạc tại khu phố Phước Tân, phư ng Tân Thiện, thành phố Đ , tỉnh B nh Phước (có sơ đ kèm theo).

ng Nguy n Phước B có trách nhiệm làm thủ tục và nộp thu để chuyển đ i mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật thi hành án dân sự th các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 uật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật thi hành án dân sự.

2. Chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá tài sản đất tranh chấp và chi phí giám định chữ ký là 1.650.000 đ ng ông B tự nguyện chịu nên được khấu trừ vào số ti n tạm ứng chi phí tố tụng mà ông B đã nộp, ông B đã thi hành xong.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguy n Thị Thu C ; ng Nguy n V n U ; bà Lê Thị Thu Nga; Bà Nguy n Thị Thu Ng , Ông Lê Bá Nh , ng Nguy n V n H m i ngư i phải nộp 300.000 đ ng.

Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đ ng oài (nay là thành phố Đ ) hoàn trả cho ng Nguy n Phước B số tiền 7.500.000 đ ng tiền tạm ứng án phí ông B đã đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000782 ngày 19/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ .

4. Án phí dân sự phúc thẩm:

Nguyên đơn ng Nguy n Phước B không phải chịu. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước hoàn trả cho ông B số tiền 300.000 đ ng ông B đã nộp theo biên lai thu tiền số 0025335 ngày 11/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Bị đơn ng Nguy n V n U không phải chịu. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước hoàn trả cho ông U số tiền 300.000 đ ng do ông Nguy n Hữu Phát nộp thay ông U theo biên lai thu tiền số 0025360 ngày 11/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Bị đơn bà Lê Thị Thu Ng không phải chịu. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước hoàn trả cho bà Ng số tiền 300.000 đ ng do ông Nguy n Hữu Phát nộp thay bà Ng theo biên lai thu tiền số 0025362 ngày 11/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Bị đơn Bà Nguy n Thị Thu C không phải chịu. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước hoàn trả cho bà C số tiền 300.000 đ ng do ông Nguy n Hữu Phát nộp thay bà C theo biên lai thu tiền số 0025361 ngày 11/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ , tỉnh B nh Phước.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ