vanban.org

Bản án 118/2021/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Long An Tuyên án 05/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân D Thị xã Kiến Tường; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ L đối với bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Huỳnh Thị Mỹ L " Tranh chấp hụi" với Nguyễn Thị D, Nguyễn Thanh N"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng D sự; Điều 26 Bộ luật tố tụng D sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN D
TỈNH LONG AN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2021/DS-PT
Ngày: 05-4-2021
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thiện Tâm

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Tòa án nhân D tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân D tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 11 năm 2020, ngày 01 tháng 4 và ngày 5 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân D tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án D sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân D thị xã Kiến Tường bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 456/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2020 và thông báo mở lại phiên tòa số 37/2021/TB-TA ngày 17/3/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Số nhà A, ấp, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974;

2.2. Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1975;

Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị D

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2020, biên bản hòa giải ngày 17/8/2020 và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:

Bà D có tham gia các dây hụi mà bà L là chủ thảo như sau:

Dây hụi mở ngày 25/9/2016 (ngày 25/8/2016 al), hụi 10.000.000đồng, 4 tháng khui 1 lần, hụi có 16 phần, bà D tham gia 1 phần đã hốt hụi tại kỳ hụi thứ 9, còn 6 kỳ nữa mãn hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 2 lần, mỗi lần 10.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng (góp thay) cho bà D 20.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn (còn kỳ nữa mới mãn hụi).

Dây hụi mở ngày 14/7/2018 (ngày 02/6/2018 al), hụi 5.000.000đồng, 3 tháng khui 1 lần, hụi 15 phần, bà D 1 phần đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 5 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng cho bà D 25.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Dây hụi mở ngày 8/4/2017 (ngày 12/3/2017 al), hụi 5.000.000đồng, 3 tháng khui hụi 1 lần, hụi 19 phần, bà D tham gia 1 phần đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 3 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng hụi cho bà D 15.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Dây hụi mở ngày 25/9/2017 (ngày 06/8/2017 al), hụi 5.000.000đồng, 3 tháng khui 1 lần, hụi 20 phần, bà D tham gia 1 phần đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 3 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng hụi cho bà D 15.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Dây hụi mở ngày 24/6/2017 (ngày 01/6/2017 al), hụi 5.000.000đồng, 2 tháng khui 1 lần, hụi 20 phần, bà D tham gia 1 phần, đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 5 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng hụi cho bà D 25.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Dây hụi mở ngày 10/2/2018 (ngày 25/12/2017 al), hụi 5.000.000đồng, 2 tháng khui 1 lần, hụi 15 phần, bà D tham gia 1 phần đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 2 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng hụi cho bà D 10.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Dây hụi mở ngày 07/11/2015 (ngày 26/9/2015 al), hụi 5.000.000đồng, 4 tháng khui 1 lần, hụi 16 phần, bà D tham gia 1 phần đã hốt hụi, nhưng đến hạn góp hụi chết 2 lần, mỗi lần 5.000.000đồng bà D không góp nên bà đã choàng hụi cho bà D 10.000.000đồng, dây hụi này đến ngày bà khởi kiện chưa mãn.

Tổng cộng 7 dây hụi trên đến ngày khởi kiện bà L đã choàng hụi cho bà D 120.000.000đồng nên bà L yêu cầu bà D và ông N phải trả cho bà số tiền là 120.000.000đồng đến ngày bà khởi kiện là ngày 11/6/2020 (dl).

Ngoài ra, ngày 10/8/2019bà L và bà D có chốt các dây hụi khác bà D tham gia hụi đã mãn, bà D còn nợ bà L số tiền hụi là 344.860.000đồng và bà D có ký nhận nợ số tiền là 344.860.000đồng; Nay bà L yêu cầu bà D và ông N phải liên đới trả hai khoản nợ như đã nêu tổng cộng là 464.860.000đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 17/8/2020 bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Đối với các dây hụi ngày 25/9/2016; ngày 14/7/2018; ngày 08/4/2017; ngày 25/9/2017; ngày 24/6/2017; ngày 10/02/2018; ngày 07/11/2015 là bà thừa nhận có tham gia và đã hốt hụi, nhưng sau đó bà có hốt dây hụi 10.000.000đồng mở ngày 28/8/2016 được số tiền 114.780.000đồng bà L đã trừ toàn bộ số tiền này vào tiền hụi chết mà bà D đã hốt ở các dây hụi ngày 25/9/2016; ngày 14/7/2018; ngày 08/4/2017; ngày 25/9/2017; ngày 24/6/2017; ngày 10/02/2018; ngày 07/11/2015. Bà D xác định là không còn nợ tiền hụi chết 120.000.000đồng như bà L đã trình bày nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Đối với biên nhận nợ ngày 10/8/2019 bà D xác định là bà có ký nhận nhưng do bà L ép buộc phải nhận nợ số tiền là 344.860.000đồng, chứ thực tế bà không nợ tiền hụi hay kết hụi gì với bà L, lúc đó bà L đóng cửa nhà không cho bà về và dùng vũ lực ép buộc, khống chế, khiến bà không còn tỉnh táo, hoảng loạn nên đã ký nhận nợ. Vì vậy bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại biên bản hòa giải ngày 17/8/2020 bị đơn ông Nguyễn Thanh N trình bày: Việc tham gia góp hụi, nhận nợ của bà D đối với bà L là ông không biết. Nay bà L yêu cầu ông liên đới trả nợ cùng với bà D ông không đồng ý.

Tại bản án D sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân D thị xã Kiến Tường đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ L đối với bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N về việc “tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

2. Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N phải liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền hụi là 464.860.000đồng (bốn trăm sáu mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án thì bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật D sự.

4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N phải liên đới chịu 22.594.000đồng (hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng) án phí D sự sơ thẩm; Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.297.000đồng (mười một triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009316 ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án D sự thị xã Kiến Tường.

Ngày 11/9/2020 bà Nguyễn Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cầu tòa án cấp phúc xét xử theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phần tranh luận:

Bà D trình bày:

Khi bà hốt dây hụi 10.000.000đồng được số tiền 114.780.000đồng đáng lẽ bà L phải giao hụi cho bà sau 5 ngày kể từ ngày khui hụi, nhưng đến ngày 05/8/2019 (âm lịch) bà L và bà chốt nợ hụi. Bà L không giao cho bà số tiền hụi đã hốt được là 114.780.000đồng mà cấn trừ tiền hụi chết của chính dây hụi 10.000.000đồng và 6 dây hụi 5.000.000đồng bà đã giam gia. Bà thừa nhận 6 dây hụi 5.000.000.000đồng mà bà L khởi kiện bà có tham gia và đã hốt hụi. Tuy nhiên, do bà L cấn trừ hết số tiền hốt hụi 114.780.000đồng vào tiền hụi chết của 6 dây hụi 5.000.000đồng và dây hụi 10.000.000đồng nên từ ngày 05/8/2019 (âm lịch) đến nay bà không đóng hụi chết cho bà L.

Đối với tiền 344.860.000đồng bà ký nhận theo hóa đơn bán lẻ ngày 10/8/2019 (al) thì lúc đó bà chỉ vào tờ hóa đơn trống không có nội dung, sau khi ký bà nói với bà L là có một tờ hóa đơn trống và yêu cầu bà L xé bỏ đi, bà L hứa sẽ xé bỏ tờ hóa đơn này nhưng sau đó bà L không xé mà ghi vào bà còn nợ bà L số tiền 344.860.000đồng và làm căn cứ khởi kiện. Thực tế bà không nợ bà L số tiền nào cả, do đó bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

Bà L trình bày:

Số tiền bà D hốt hụi 114.780.000đồng bà đã giao cho bà D theo biên nhận ngày 05/8/2019 (al) và bà D đã ký tên nhận đủ tiền. Bà D cho rằng bà không giao tiền hụi cho bà D mà cấn trừ hết vào hụi chết chưa đóng của dây hụi 10.000.000đồng và 6 dây hụi 5.000.000đồng là không đúng vì nếu cấn trừ vào hụi chết hết số tiền 114.780.000đồng và không giao tiền thì tại sao bà D lại ký tên vào biên nhận ngày 5/8/2019 (al). Sau khi hốt hụi bà D không đóng lại hụi chết nên bà đã choàng hụi cho bà D để giao hụi cho các hụi viên khác. Bà D cho rằng ngày 5/8/2019 (al) hai bên đã chốt nợ và cấn trừ tiền hụi bà D không còn nợ là không đúng vì không có việc cấn trừ như bà D trình bày.

Đối với số tiền 344.860.000đồng bà D nói ký vào tờ hóa đơn trống không có nội dung là không đúng, trước đây bà D khai do bà đóng cửa nhà, ép buộc bà D ký tên nhận nợ số tiền 344.860.000đồng nên sau đó bà D có báo công an xã tên Đức, nhưng giờ bà D khai là ký vào tờ hóa đơn trống như vậy lời trình bày của bà D là không đúng. Số tiền nợ 344.860.000đồng là tiền nợ hụi của các dây hụi trước đó bà D đã hốt hụi nhưng chưa đóng đủ hụi chết bà đã choàng hụi cho bà D để giao hụi cho các hụi viên khác, đến ngày 10/8/2019 (al) hai bên chốt nợ bà D thống nhất mới ký tên vào giấy nợ.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về chấp hành pháp luật: Kháng cáo của bà D đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng D sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm có thu thập thêm chứng cứ, việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

Đối với số tiền 120.000.000đồng hụi chết của 7 dây hụi bà L đang khởi kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm bà D xác định sau khi hốt hụi của dây hụi 10.000.000đồng vào ngày 5/8/2019 (al) được số tiền 114.780.000đồng bà L không giao tiền mà cấn trừ vào hụi chết của 6 dây hụi 5.000.000đồng và hụi chết của dây hụi 10.000.000đồng đang hốt nên bà không nhận của bà L số tiền nào cả. Bà D xác định do đã cấn trừ hết hụi chết nên từ ngày 5/8/2019 (al) đến nay bà không đóng hụi chết cho bà L. Tuy nhiên, bà D không cung cấp được chứng cứ có việc cấn trừ tiền hốt hụi vào hụi chết mà bà D thừa nhận chữ ký của bà trong biên nhận ngày 5/8/2019 (al) với nội dung nhận đủ số tiền 114.780.000đồng. Do đó bà L khởi kiện yêu cầu bà D trả tiền hụi chết 120.000.000đồng là có cơ sở.

Đối với số tiền 344.860.000đồng theo hóa đơn bán lẻ ngày 10/8/2019 (al). Bà D thừa nhận chữ ký trong hóa đơn này là của bà D. Trong giai đoạn sơ thẩm bà D trình bày bị bà L đóng cửa nhà, ép buộc bà ký tên, sau khi ký tên thì ngày 11/8/2019 âm lịch tức ngày 09/9/2019 dương lịch bà D có đến Công an xã Thạnh Hưng gặp người tên Đức để báo sự việc bà bị bà L ép buộc ký tên nhận nợ nhưng không được công xã tên Đức lập biên bản về việc này. Căn cứ vào công văn số 01/CAX ngày 28/12/2020 của Công an xã Thạnh Hưng thể hiện trong thời gian 11/8/2019 âm lịch tức ngày 09/9/2019 dương lịch Công an xã Thạnh Hưng không có tiếp nhận trường hợp đến trình báo sự việc có liên quan đến bà Nguyễn Thị D và trong thời gian trên lực lượng Công an xã Thạnh Hưng không có người tên Đức. Tại phiên tòa phúc thẩm bà D trình bày bà L đưa cho bà ký tên vào 3 tờ hóa đơn có nội dung và 1 tờ hóa đơn trống không có nội dung, khi phát hiện ký tên vào tờ hóa đơn trống không có nội dung thì bà D có yêu cầu bà L xé bỏ, bà L có hứa là sẽ xé bỏ nhưng sau đó bà L không xé mà ghi bà D còn nợ bà L số tiền 344.860.000đồng. Như vậy, lời trình bày của bà D không thống nhất có sự mâu thuẫn, bà D thừa nhận chữ ký tên trong hóa đơn bán lẻ ngày 10/8/2019 (al) là của bà, nội dung trong tờ hóa đơn này thể hiện bà D còn thiếu bà L số tiền 344.860.000đồng nên bà L yêu cầu bà D trả số tiền 344.860.000đồng là có cơ sở. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị D đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bà D đề nghị tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

Về số tiền hụi chết 120.000.000đồng bà L yêu cầu bà D phải trả đến ngày L khởi kiện (ngày 11/6/2020 bà L khởi kiện thì các dây hụi này chưa mãn).

Bà D thừa nhận có tham gia 7 dây hụi theo đơn khởi kiện của bà L và thừa nhận 6 dây hụi 5.000.000đồng đã hốt hụi rồi, chỉ còn lại nghĩa vụ đóng hụi chết. Đối với dây hụi 10.000.000đồng mở ngày 25/9/2016 (âm lịch) bà D cũng thừa nhận đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 9 được số tiền 114.780.000đồng và còn lại 6 kỳ hụi chết đến khi mãn hụi. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng D sự xác định đây là tình tiết không cần chứng minh.

Bà D cho rằng số tiền hốt hụi 114.780.000đồng bà L không giao cho bà mà cấn trừ vào tiền hụi chết của 6 dây hụi 5.000.000đồng và tiền hụi chết của chính dây hụi 10.000.000đồng bà đang hốt. Lời trình bày của bà D về việc cấn trừ tiền hốt hụi vào hụi chết không được bà L thừa nhận, bà D không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh có việc cấn trừ này, trong khi biên nhận ngày 5/8/2019 (al) có nội dung bà D có mượn bà L số tiền 114.780.000đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L và bà D xác định số tiền 114.780.000đồng là tiền bà D hốt hụi chứ không phải tiền mượn, phần cuối của biên nhận có ghi rõ người mượn đã nhận đủ tiền và bà D thừa nhận chữ ký trong biên nhận này là của bà D. Do đó, có cơ sở xác định bà D có nhận số tiền hốt hụi 114.780.000đồng, không có việc cấn trừ số tiền hốt hụi vào hụi chết như lời trình bày của bà D.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà D xác định kể từ ngày nhận tiền hốt hụi (ngày 5/8/2019 al) cho đến nay bà không đóng hụi chết cho bà L. Như nhận định tại phần [3.2] không có việc cấn trừ số tiền hốt hụi vào hụi chết nên việc bà L khởi kiện yêu cầu bà D phải trả số tiền hụi chết kể từ hốt hụi ngày 5/8/2019(al) đến ngày bà L khởi kiện (ngày 11/6/2020 dl) với số tiền 120.000.000đồng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà D phải trả cho bà L 120.000.000đồng tiền hụi chết kể từ ngày 5/82019(al) đến ngày bà L khởi kiện (ngày 11/6/2020- dương lịch) là có căn cứ. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo phần này của bà D.

Về số tiền 344.860.000đồng bà D kháng cáo không đồng ý trả cho bà L vì cho rằng không nợ bà L số tiền này. Xét thấy:

Bà D thừa nhận chữ ký trong tờ hóa đơn bán lẻ ghi ngày 10/8/2019 (al) là của bà D. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà D trình bày do bà L đóng cửa nhà không cho bà D về và ép buộc bà D ký nhận nợ số tiền 344.860.000đồng nên bà mới ký nhận số tiền trên, sau khi ký nhận bà không nói cho chồng bà biết mà đến ngày 11/8/2019(al) tức ngày 9/9/2019 (dương lịch) bà D có đến Công an xã Thạnh Hưng gặp người tên Đức trình báo về việc bị bà L ép buộc ký tên nhưng Công an xã không lập biên bản về việc này. Căn cứ vào công văn số 01/CAX ngày 28/12/2020 của Công an xã Thạnh Hưng thể hiện trong thời gian ngày 11/8/2019 (âm lịch) tức ngày 9/9/2019(dương lịch) Công an xã Thạnh Hưng không tiếp nhận trường hợp đến trình báo sự việc liên quan đến bà Nguyễn Thị D và trong thời gian trên Công an xã Thạnh Hưng không có người tên Đức. Tại văn bản trả lời xác minh ngày 05/4/2021 của Công an xã Thạnh Hưng có nội dung: Trước đây ông Trần Kỉnh Đức, sinh năm 1980 giữ chức vụ Trưởng công an xã Thạnh Hưng từ năm 2013 đến tháng 5 năm 2019. Từ tháng 6 năm 2019 chuyển sang làm công chức Tư pháp xã Thạnh Hưng, đến tháng 5 năm 2020 chuyển sang làm công chức văn hóa xã hội cho đến nay. Khoảng tháng 8 năm 2019 bà Nguyễn Thị D có đến gặp ông Đức (lúc này bà D chưa biết ông Đức không còn làm trưởng công an) báo miệng nói bị bà L bắt ký giấy nợ nhưng bà không nợ tiền bà L. Sau đó ông Đức hỏi bà D có bị cưỡng chế, ép buộc ký vào giấy nợ không thì bà D nói không bị cưỡng chế, ép buộc, bà ký xong rồi bà mới hỏi bà L coi giấy gì thì bà L nói giấy nợ tiền thì bà D mới phát hiện. Sau đó ông Đức có nói với bà D nếu bà bị cưỡng chế, ép buộc ký tên thì bà viết đơn chuyển sang công an giải quyết, nhưng đến nay công an xã Thạnh Hưng không nhận được bất kỳ đơn thư nào của bà D. Như vậy, việc bà D cho rằng bị bà L ép buộc ký nhận nợ là không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà D trình bày bà L đưa cho bà ký tên vào 3 tờ hóa đơn bán lẻ có ghi nội dung và có một tờ hóa đơn bán lẻ còn trống bà L không ghi nội dung nhưng bà D đã lỡ ký tên vào tờ hóa đơn trống này nên bà có kêu bà L xẻ bỏ đi, bà L có hứa sẽ xé bỏ nhưng sau đó bà L không xé bỏ tờ hóa đơn này mà ghi vào đó bà còn nợ bà L số tiền 344.860.000đồng và dùng tờ hóa đơn này làm căn cứ khởi kiện yêu cầu bà D phải trả số tiền 344.860.000đồng. Như vậy, lời trình bày của bà D ở phần [4.1] tại cấp sơ thẩm và [4.2] tại cấp phúc thẩm có mâu thuẫn nhau nhưng bà D không giải thích được sự mâu thuẫn này.

Bà D xác định bà không có nợ bà L số tiền 344.860.000đồng nên không đồng ý trả. Bà L trình bày số tiền 344.860.000đồng là D nợ tiền hụi chết của các dây hụi sau: Hụi 5.000.000đồng mở ngày 10/10/2017 (al), hụi 5.000.000đồng 1 tháng mở ngày 10/02/2017 (al), hụi 5.000.000đồng 1 tháng mở ngày 17/4/2017 (al), hụi 5.000.000đồng 1 tháng mở ngày 05/6/2017 (al), hụi 1.000.000đồng 1 tháng mở ngày 15/12/2017 (al), hụi 5.000.000đồng 1 tháng mở ngày 30/6sau/2017 (al) và được hai bên đối chiếu các khoản nợ theo các hóa đơn bán lẻ ngày 15/10/2017 (al), hóa đơn bán lẻ ngày 20/6/2018 (al), hóa đơn bán lẻ ngày 05/7/2018 (al) (44.0000.000đồng). Tại biên bản làm việc ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân D tỉnh Long An bà D xác nhận các chữ ký trong các giấy ghi hụi và các hóa đơn trên là của bà D. Tuy nhiên, bà D trình bày đã đóng hụi chết đầy đủ cho bà L vì chỗ chị em bạn tin tưởng nhau nên khi đóng hụi bà không buộc bà L viết biên nhận. Đối với số tiền 344.860.000đồng là do bị bà L đe dọa ép buộc nên bà ký tên.

Từ nhận định tại phần [4.1], [4.2] và [4.3] có cơ sở xác định bà D còn nợ bà L số tiền hụi 344.860.000đồng, do đó bà L yêu cầu bà D trả số tiền trên có cơ sở. Bà D kháng cáo cho rằng không có nợ số tiền này, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo phần này của D.

Từ những nhận định trên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà D, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí D sự phúc thẩm: Bà D phải chịu án phí D sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 29 Nghị quyết 326.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng D sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân D Thị xã Kiến Tường;

Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng D sự; các điều 280, 288 468, 471 Bộ luật D sự; các điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình. Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ L đối với bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

2. Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N phải liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền hụi đến ngày bà L khởi kiện (ngày 11/6/2020 dương lịch) là 464.860.000đồng (bốn trăm sáu mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật D sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí D sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Thanh N phải liên đới chịu 22.594.000đồng (hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng) án phí D sự sơ thẩm; Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.297.000đồng (mười một triệu hai trăm chín mươi bảynghìn đồng) theo biên lai thu số 0009316 ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án D sự thị xã Kiến Tường.

5. Về án phí D sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đồng án phí D sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà D đã nộp theo biên lai thu số 0009364 ngày 11/9/2020 của Chi cục Thi hành án D sự thị xã Kiến Tường.

6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án D sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án D sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án D sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án D sự.

Cỡ chữ