- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Huyền Thương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2020/HSST Ngày: 25-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bà: Cao Thị Đào;
Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Vũ Văn Chuyển;
2- Ông Lã Ngọc Tường.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020 Tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 454/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2020 đối với:
Bị cáo: Lê Thị Huyền T, sinh ngày: 10/3/1987.
Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú + chỗ ở hiện nay: Tổ 3, khu T, phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Lê Huy O, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1963;
Chồng: Đào Việt C, sinh năm 1982 (Đã ly hôn)
Con: 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013)
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/4/2020 đến ngày 22/4/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt)
Bị hại: Công ty Cổ phần P Phú Thọ.
Địa chỉ: Số nhà 1516, đường H, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hương G – Sinh năm 1969.
Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị - Giám đốc Công ty P.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Kim T– Sinh năm 1966.
Chức vụ: Trưởng phòng tổ chức hành chính (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2007, Lê Thị Huyền T - sinh năm 1987, đăng ký hộ khẩu thường trú tổ 3, khu T, phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ được nhận vào làm việc tại Công ty cổ phần PPhú Thọ có địa chỉ: số nhà 1516, đại lộ H, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình làm việc, có thời gian T làm nhiệm vụ thu ngân của công ty và được giao quản lý chìa khóa kho có để két sắt và mật khẩu két sắt để bàn giao quỹ (là số tiền bán hàng mỗi ngày). Do sợ làm mất chìa khóa kho nên T đã tự ý đánh thêm 01 chiếc chìa khóa dự phòng khác và đem cất giữ. Sau khi được phân công sang công tác tại vị trí bán hàng, T đã bàn giao lại chìa khóa kho nhưng không bàn giao lại chiếc chìa khóa dự phòng. Đến tháng 2 năm 2020, do T đang làm thủ tục ly hôn nên được ban lãnh đạo công ty đồng ý cho ở nhờ 01 phòng tại tầng 3 của công ty, trong thời gian chờ tìm được chỗ ở mới. Quá trình dọn dẹp đồ đạc đến công ty, T phát hiện ra chiếc chìa khóa kho dự phòng mà bản thân vẫn còn cất giữ từ trước. Đến ngày 03/4/2020, theo Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về phòng chống đại dịch Covid-19, Công ty cổ phần PPhú Thọ cho cán bộ đang làm việc tại Công ty không phải đến Công ty mà làm việc tại nhà. Thấy Công ty không có người và đang sẵn có chiếc chìa khóa kho và biết chiếc két chỉ được khóa bằng mật khẩu nên T nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong két sắt của công ty. T đi đến nhà kho ở tầng 2, dùng chiếc chìa khóa dự phòng để mở cửa kho, sau đó T xoay mã số két sắt theo mã số đã biết từ trước thì thấy mở được két sắt. T lấy các tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng; 200.000 đồng và 500.000 đồng để trong két, còn lại các tờ tiền có mệnh giá nhỏ dưới 10.000 đồng T không lấy mà để lại trong két. Sau đó, T đóng lại két sắt, khóa cửa phòng kho tầng 2 lại như cũ và cầm số tiền trộm cắp được đi về phòng kiểm đếm lại được 55.670.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu cá nhân.
Đến ngày 16/4/2020, khi Công ty đi làm việc trở lại thì chị Trần Thị Thúy - sinh năm 1981, ở phố Hồng Hà, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là nhân viên thu ngân của Công ty đã phát hiện mất tiền trong két sắt. Đại diện Công ty cổ phần PPhú Thọ đã trình báo sự việc đến Công an thành phố Việt Trì, đồng thời cùng ngày 16/4/2020, Lê Thị Huyền T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị Huyền T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc chìa khóa mà Lê Thị Huyền T dùng để mở cửa nhà kho, T khai đã vứt chiếc chìa khóa trên đường khi đi tiêu xài số tiền đã trộm cắp được và không nhớ vị trí chính xác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì không có căn cứ để truy tìm, thu giữ chiếc chìa khóa nói trên.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 940.000 đồng là số tiền còn lại từ số tiền mà bị cáo đã trộm cắp. Hiện số tiền này đang được bảo quản tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
Về điều kiện kinh tế: Quá trình điều tra xác định, bị cáo hiện không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản riêng gì có giá trị.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT - VKSVT ngày 28/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Thị Huyền T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
Áp dụngvào điểm c, khoản 2, Điều 173; khoản 1,2,5 Điều 65; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm b, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Xác nhận đại diện gia đình bị cáo Lê Thị Huyền T đã bồi thường đầy đủ cho Công ty cố phần PPhú Thọ số tiền 55.670.000đ (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo T số tiền 940.000đ (Chín trăm bốn mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2018/0000678 ngày 28/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị Huyền T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Thị Huyền T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 03/4/2020, tại trụ sở của Công ty cổ phần PPhú Thọ số nhà 1516, đại lộ H, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Lê Thị Huyền T đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 55.670.000 đồng của Công ty cổ phần PPhú Thọ. Tài sản đã được bị cáo cùng gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị Huyền T đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng…”.
Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. V× vËy cần xử phạt bị cáo th× míi cã t¸c dông gi¸o dôc riªng vµ phßng ngõa chung.
Tuy nhiªn khi quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t ®èi với bÞ c¸o, cÇn xem xÐt ®Õn nh©n th©n, t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo lần đầu tiên phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực vận động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình, bị hại là công ty cổ phần PPhú Thọ đã có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là ông Lê Huy Oánh được chủ tịch nước tặng thưởng huy chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội mà cho bị cáo ®îc hưởng mức án c¶i t¹o ngoµi x· héi díi sù gi¸m s¸t cña chÝnh quyÒn ®Þa ph¬ng và gia đình còng ®ñ ®iÒu kiÖn để dăn đe, giáo dục bị c¸o c¶i t¹o trë thµnh ngêi tèt cã Ých sau nµy cho gia đình và xã hội còng lµ thÓ hiÖn chÝnh s¸ch khoan hång cña ph¸p luËt.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án và các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền 55.670.000 đồng T trộm cắp của Công ty cố phần PPhú Thọ. Ngày 21/4/2020 bà Nguyễn Thị Kim Xuyên (là mẹ đẻ bị cáo T) đã bồi thường đầy đủ số tiền trên cho Công ty cố phần PPhú Thọ, thấy là phù hợp nên chấp nhận.
- Đối với số tiền 55.670.000 đồng mà bà Nguyễn Thị Kim Xuyên mẹ đẻ của bị cáo đã bồi thường cho Công ty cố phần PPhú Thọ, bà Xuyên cho T không yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền trên. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Đối với số tiền 940.000 đồng cơ quan điều tra thu của bị cáo, đại diện gia đình bị cáo là bà Nguyễn Thị Kim Xuyên đã bồi thường đầy đủ cho Công ty cổ phần PPhú Thọ. Vì vậy cần trả lại cho bị cáo số tiền 940.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lê Thị Huyền T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 173; khoản 1,2,5 Điều 65; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm b, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bÞ c¸o cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nơi bị cáo thường trú gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thời gian thử thách. Gia đình bÞ c¸o có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự về việc làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến nơi cư trú để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Thị Huyền T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Thị Huyền T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Xác nhận đại diện gia đình bị cáo Lê Thị Huyền T đã bồi thường đầy đủ cho Công ty cố phần PPhú Thọ số tiền 55.670.000đ (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo T số tiền 940.000đ (Chín trăm bốn mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2018/0000678 ngày 28/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Lê Thị Huyền T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kÓ tõ ngµy nhËn được b¶n ¸n hoÆc được niªm yÕt bản án, ®Ó yªu cÇu Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - CA TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Chi cục THADS TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - UBND Phường T, Tp.Việt trì, T.Phú Thọ; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Đào |